Khoa học - Lịch sử 2013-10-21 02:02:32

NHỮNG NGƯỜI NỔI TIẾNG CA NGỢI ĐẠO PHẬT KỂ CẢ TỔNG THỐNG HOA KỲ



 

NHỮNG NGƯỜI NỔI TIẾNG CA NGỢI ĐẠO PHẬT
KỂ CẢ TỔNG THỐNG HOA KỲ
Famous people include American President praise Buddhism
Tuệ Uyển chuyển ngữ ngày 22/4/2012
  
Philip Kotler (1931- )
"Sự tiếp cận của tôi được ảnh hưởng bởi Thiền. Thiền nhấn mạnh việc học hỏi bằng những phương tiện của tĩnh lự và tuệ quán trực tiếp, trực giác. Những tư tưởng trong quyển sách này là kết quả của những sự hành thiền của tôi trên những nhận thức và nguyên tắc nền tảng của thị trường.
 
(Tuệ Quán Thị Trường từ A đến Z
 
“My approach is influenced by Zen. Zen emphasizes learning by means of meditation and direct, intuitive insights. The thoughts in this book are a result of my meditations on these fundamental marketing concepts and principles.”
(Marketing Insights from A to Z)
  
Ronald Wilson Reagan (1911-2004)"Một điều mà Đạo Phật dạy chúng ta là mỗi thời khắc là một cơ hội để thay đổi."
“One thing that Buddhism teaches you is that every moment is an opportunity to change. ”
  
Stephan R Covey (1932- )
Về thói quen thứ sáu (kết luận của quyển sách này) "Đạo Phật gọi đây là "con đường trung đạo". Trung Đạo trong ý nghĩa này không có nghĩa là sự thỏa hiệp; nó có ý nghĩa cao hơn, nó là chóp đỉnh của hình tam giác."
Bảy Thói Quen Ảnh Hưởng Con Người Cao Độ
 
About 6th habit (it is conclusion of this book) “Buddhism calls this “the middle way.” Middle in this sense does not mean compromise; it means higher, like the apex of the triangle.”
(Seven Habits of Highly Effective Pepole)
  
Uma Thurman (1970-)"Đạo Phật có một ảnh hưởng quan trọng trên vấn đề tôi là ai và tôi nghĩ về thế giới như thế nào."
“Buddhism has had a major effect on who I am and how I think about the world.”
  
CÁC NHÀ KHOA HỌC CA NGỢI ĐẠO PHẬT
Scientists praise Buddhism
 
Albert Einstein (1879-1955)"Nếu có một tôn giáo có thể đối diện với những nhu cầu của khoa học hiện đại đấy sẽ là Đạo Phật."
“If there is any religion that could cope with modern scientific needs it would be Buddhism.”
  
Niels. Bohr (1885-1962) "Đối với một sự song song cho lý thuyết nguyên tử … [chúng ta phải hướng đến những vấn đề nhận thức luận mà những tư tưởng gia như Đức Phật và Lão Tử đã đối diện rồi khi cố gắng để hòa hiệp các vị thế của chúng ta như những khán giả và diễn viên trong màn kịch vĩ đại của sự tồn tại.]
(Vật Lý Nguyên Tử và Tri Thức Con Người“For a parallel to the lesson of atomic theory . . . [we must turn to those kinds of epistemological problems with which already thinkers like the Buddha and Lao Tzu have been confronted, when trying to harmonize our position as spectators and actors in the great drama of existence.”
(Atomic Physics and Human Knowledge)
  
Werner Heisenberg (1901-1976)"Sự đóng gióp khoa học vĩ đại trong lý thuyết vật lý đã đến từ Nhật Bản từ cuộc chiến cuối cùng có thể là một sự biểu hiện cho một mối quan hệ nào đó giữa những ý tưởng triết lý trong truyền thống Viễn Đông và triết học Schrödinger[1] ."
(Vật Lý và Triết Lý)
“The great scientific contribution in theoretical physics that has come from Japan since the last war may be an indication of a certain relationship between philosophical ideas in the tradition of the Far East and the philosophical Schrodinger.”
(Physics and Philosophy)
[1]Erwin Rudolf Josef Alexander Schrödinger (12 August 1887 – 4 January 1961): một người Áo, một nhà vật lý học và toán sinh học, một trong những cha đẻ của Cơ Học Lượng Tử.
  
Julius Robert Oppenheimer (1904-1967)"Khái niệm tổng quát về sự thấu hiểu của con người … là điều được soi sáng bởi những sự khám phá trong vật lý nguyên tử không phải trong bản chất của mọi vật hoàn toàn xa lạ, hoàn toàn chưa nghe đến, hay mới mẻ. Ngay cả trong nền văn hóa của chính chúng ta chúng có một lịch sử, và trong tư tưởng Phật Giáo và Ấn Giáo là một vị trí quan trọng và trung tâm. Những gì chúng ta thấy là một sự minh họa, một sự khuyến khích, và một tinh túy của tuệ trí cũ kỷ."(Khoa Học và Tri Thức Thông Thường)
 
“The general notions about human understanding… which are illustrated by discoveries in atomic physics are not in the nature of things wholly unfamiliar, wholly unheard of, or new. Even in our own culture they have a history, and in Buddhist and Hindu thought a more considerable and central place. What we shall find is an exemplification, an encouragement, and a refinement of old wisdom.’”
(Science and the Common Understanding)
  
CÁC NHÀ TÂM LÝ HỌC CA NGỢI ĐẠO PHẬT
Psychologists praise Buddhism
 
Henry_David_Thoreau(July 12, 1817 – May 6, 1862)"Một dấu chân đơn lẻ sẽ không làm nên lối mòn trên mặt đất, thế nên một tư tưởng đơn lẻ sẽ không làm nên một dấu vết trong tâm. Để làm nên một lối mòn vật lý sâu sắc, chúng ta phải đi tới đi lui hết lần này đến lần khác. Để làm nên một dấu vết tinh thần sâu sắc, chúng ta phải suy đi nghĩ lại nhiều lần về loại tư tưởng mà chúng ta mong ước chiếm ưu thế trong đời sống chúng ta".
"As a single footstep will not make a path on the earth, so a single thought will not make a pathway in the mind. To make a deep physical path, we walk again and again. To make a deep mental path, we must think over and over the kind of thoughts we wish to dominate our lives."
  
Albert Einstein (14 March 1879 – 18 April 1955)"Con người là một bộ phận của một tổng thể, được chúng ta gọi là Vũ trụ, một phần tử giới hạn trong thời gian và không gian. Con người tự kinh nghiệm, cảm giác và tư tưởng của con người, như điều gì đấy riêng biệt với tất cả,một loại vọng tưởng của tâm thức. Vọng tưởng này là một loại ngục tù cho chúng ta, giới hạn chúng ta với những tham dục cá nhân và ảnh hưởng những người gần gũi nhất. Nhiệm vụ của chúng ta là phải giải thoát chúng ta khỏi ngục tù này bằng việc mở rộng chu vi từ bi để bao gồm tất cả mọi tạo vật và tổng thể tự nhiên trong sự xinh đẹp của nó".
 
"A human being is part of w whole, called by us the Universe, a part limited in time and space. He experiences hiimself, his thoughts and feelings, as something separated from the rest, a kind of optical delusion of his consciousness. This delusion is a kind of prison for us, restricting us to our personal desires and to affecion for a few persons nearest us. Our task must b e to free ourselves from this prison by wedening our cricles of compassion to embrace all living creatures and the whole of nature in its beauty."
Albert Einstein, 1921
  
Paul Ekman (1934-)"Các khái niệm và thực hành của Đạo Phật đối diện với đời sống cảm xúc làm nên ba cống hiến rất khác biệt đến tâm lý học. Một cách lý thuyết, chúng phát khởi những vấn đề đã bị nhiều nhà tâm lý học quên lãng, đánh thức lãnh vực làm cho những sắc thái khác biệt tế nhị hơn trong suy tư về trải nghiệm cảm xúc. Một cách phương pháp, Đạo Phật cung ứng những sự thực hành có thể giúp
con người tường trình những kinh nghiệm nội tại của chính họ, và những sự thực tập như vậy do thế có thể cung ứng những thông tin quan yếu chi tiết hơn và toàn diện hơn những thứ được thu thập bởi kỷ thuật tâm lý bây giờ sử dụng để nghiên cứu những trải nghiệm cảm xúc khách quan. Cuối cùng những sự thực hành của Đạo Phật tự chúng cung cấp một loại tâm lý trị liệu, không chỉ vì những người bị quấy rầy, nhưng cho tất cả những ai tìm kiếm sự cải thiện phẩm chất cho đời sống của họ. Chúng ta hy vọng những gì chúng tôi đã nêu lên sẽ phục vụ để khởi động sự hấp dẫn của các nhà tâm lý học để nghiên cứu hơn nữa về truyền thống này."(Nhận Thức của Đạo Phật và Tâm Lý Học về Những Cảm Xúc và Cát Tường)

“Buddhist conceptions and practices that deal with emotional life make three very distinct contributions to psychology. Conceptually, they raise issues that have been ignored by many psychologists, calling on the field to make more finely nuanced distinctions in thinking about emotional experience. Methodologically, they offer practices that could help individuals report on their own internal experiences, and such practices might thereby provide crucial data that is much more detailed and comprehensive than that gathered by the techniques psychologists now use to study subjective emotional experience. Finally, Buddhist practices themselves offer a therapy, not just for the disturbed, but for all who seek to improve the quality of their lives. We hope what we have reported will serve to spark the interest of psychologists to learn more about this tradition.” 
(Buddhist and Psychological Perspectives on Emotions and Well-Being)
  
Joshua. R. O’neilÔng là chủ tịch của Học Đường Tâm Lý Học Chuyên Nghiệp California và là thành viên của Hội đồng quản trị Mạng liên Xã hội và lãnh đạo California. Ông tư vấn cho các tập đoàn lớn và giám đốc điều hành về quy hoạch, lãnh đạo, và tổ chức sức khỏe.
 
"Có lẻ quan trọng hơn là sự kiện rằng "những người thật sự"chế nhạo thiền tập đã thấy rằng những nhà cạnh tranh cứng rắn Nhật Bản sử dụng nó thường xuyên. Vì thế ngày càng nhiều nghiệp vụ chính thống đã bắt đầu nghiên cứu Đạo Phật và những giáo lý Đông phương khác và để thực hành thiền, cùng những khóa tĩnh tâm cuối tuần trong sự phối hợp với thiền tập đã phổ cập rộng rãi.Nghịch Lý của Thành Công

He is president of the California School of Professional Psychology and a member of the boards of the Social Venture Network and California Leadership. He advises major corporations and CEOs on planning, leadership, and organizational health.
“Perhaps more important was the fact that “real men” who had sneered at meditation found out that their hard-as-nails Japanese competitors used it regularly. So more and more persons in mainstream careers began to study Buddhism and other Eastern teachings and to practice meditation, and weekend retreats incorporation meditation grew in popularity.” 
(Paradox of Success)
  
Jeffrey M. SchwartzÔng là một giáo sư của UCLA.
"Chúng ta cũng nói về cả vật lý lượng tử và Đạo Phật cổ truyền cung ứng mong ước và lựa chọn là một vai trò trung tâm trong hoạt động của vũ trụ … Theo luật thời gian vô tận của Duyên Khởi, đấy là do bởi khát vọng tâm thức ấy luôn sinh khởi khắp cả vòng luân hồi vô tận của thế gian. Và chắc chắn đúng rằng trong triết lý Đạo Phật sự lựa chọn của một người không phải được quyết định bởi bất cứ thứ gì trong vật lý, thế giới vật chất….
 
Vì vậy trong cả vật lý lượng tử và triết lý Đạo Phật, khát vọng đóng một vài trò đặc biệt, độc dáo." (Tâm Thức và Não Bộ)
He is a professor of the UCLA.
“We talked, too, about how both quantum physics and classical Buddhism give volition and choice a central role in the workings of the cosmos….According to the Buddha’s timeless law of Dependent Origination, it is because of volition that consciousness keeps arising throughout endless world cycles. And it is certainly true that in Buddhist philosophy one’s choice is not determined by anything in the physical, material world…. So in both quantum physics and Buddhist philosophy, volition plays a special, unique role.” 
(The Mind and the Brain)
  
CÁC TRIẾT GIA CA NGỢI ĐẠO PHẬT
Philosophers praise Buddhism
Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831)
"Lịch sử thế giới chuyển dịch từ Đông sang Tây, đối với Âu châu chắc chắn là chấm dứt lịch sử, Á châu mới bắt đầu."
(Lịch Sử Triết Học)

“The history of the world travels from East to West, for Europe is absolutely the end of history, Asia is the beginning.”
(The Philosophy of History)
 
 
  
James Allen (1864-1912)
"Đức Phật được cho là có cái nhìn về thế giới tâm linh thuần khiết, rực rở và hòa bình hoàn hảo, và Ngài đã thể nhập vào trong ấy."
(Khi Con Người Tư Duy)

“Buddha beheld the vision of a spiritual world of stainless.
beauty and perfect peace, and he entered into it.” 
(As a man thinketh)
 
  
Karl Jaspers (1883-1969) "Trong Đức Phật và Đạo Phật tuôn chảy một cội nguồn mà những người phương Tây chúng ta chưa đề cập đến, và kết quả là có một sự giới hạn với việc thông hiểu của chúng ta. Chúng ta trước nhất phải nhận ra rằng Đạo Phật cách biệt xa chúng ta và từ bỏ tất cả những phương pháp nhanh chóng, dễ dàng của việc đến gần nó[1]. Để tham dự trong tinh túy chân lý của Đức Phật, chúng ta phải chấm dứt những gì chúng ta là."
 
"Sự thật là cuộc đời của Đức Phật là khả dĩ và cuộc sống của Đạo Phật đã là một thực tiển trong nhiều vùng ở Á châu, cho đến chúng ta ngày nay - đây là một sự kiện vĩ đại và quan trọng.
[1]Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp
(Những Triết Gia Vĩ Đại)
“In Buddha and Buddhism there flows a source which we Westerners have not tapped, and consequently there is a limit to our understanding. We must first of all acknowledgh that Buddhism is far removed from us and renounce all quick, easy ways of coming closer to it. To participate in the essence of Buddha’s truth, we should have to cease to be what we are.” 
“The fact that Buddha’s life was possible and that Buddhist life has been a reality in various parts of Asia down to our own day — this is a great and important fact.” 
“It points to the questionable essence of man.”
(THE GREAT PHILOSOPHERS)
  
Friedrich Nietzsche (1844-1900)"Đạo Phật thực tiển một trăm lần hơn Ki Tô Giáo. Đạo Phật là tôn giáo tích cực chân thành duy nhất chạm trán trong lịch sử."
“Buddhism is a hundred times as realistic as Christianity. Buddhism is the only genuinely positive religion to be encountered in history.”
(THE ANTICHRIST)
  
CÁC VĂN SĨ CA NGỢI ĐẠO PHẬT
Writers praise Buddhism
 
Daniel Pink"Đạo Phật và khoa học rất tương đồng,"…."bởi vì cả hai đang khám phái bản chất của thực tại, và cả hai có mục tiêu làm giảm thiểu khổ đau của nhân loại."
Một Tâm Thức Hoàn Toàn Mới
 
“Science and Buddhism are very similar,”… “because they are exploring the nature of reality, and both have the goal to lessen the suffering of mankind.” 
(A WHOLE NEW MIND)
  
Alan Wilson Watts (1915-1973)
 
"Đức Phật là một nhà tâm lý học vô cùng thiện xảo, và trong một cách nào đấy, Ngài là một nhà tâm lý trị liệu đầu tiên trong lịch sử, một bậc hiền nhân thấu hiểu kỳ diệu những mưu chước và tính không thành thật của tâm thức con người."
 
(Những Triết Lý Á châu)
“The Buddha was a very skillful psychologist, and he is in a way the first psychotherapist in history, a man of tremendous understanding of the wiles and the deviousness of the human mind.”
(The Philosophies of Asia)
  
Hermann Hesse (1877-1962)"Hương thơm huyền bí của Gotama, Đức Phật, bậc thông tuệ của gia đình Thích Ca. Ngài sở hữu như những người tin tưởng nói, giác ngộ vô thượng, Ngài nhớ những kiếp sống quá khứ, ngài đã đạt đến niết bàn và không bao giờ trở lại vòng luân hồi, chẳng bao giờ chìm đắm trong dòng sông tăm tối của hình sắc vật lý.Nhiều thứ kỳ diệu và không thể tin được nói về Ngài, Ngài đã thi triển thần thông, đã chiến thắng ác ma, đã nói đến chư thiên.
 
Nhưng kẻ thù của Ngài và những người không tin nói, Sa môn Gotama này là một kẻ thối đọa rỗng tuếch, ông ta sẽ sống những ngày trong nhung lụa, khinh thị đồ cúng dường, không học hỏi, và không biết thực hành cũng không tự khiển trách.
“fragrant myth of Gotama, the Buddha, the wise man of the family of Sakya. He possessed, so the believers said, the highest enlightenment, he remembered his previous lives, he had reached the nirvana and never returned into the cycle, was never again submerged in the murky river of physical forms. Many wonderful and unbelievable things were reported of him, he had performed miracles, had overcome the devil, had spoken to the gods. But his enemies and disbelievers said, this Gotama was a vain seducer, he would spent his days in luxury, scorned the offerings, was without learning, and knew neither exercises nor self-castigation.”
(Siddhartha)
  
Leo Nikolayevitch Tolstoy (1828-1910)Đối với đời sống trong tâm thức của nổi khổ không tránh khỏi, của việc trở nên bị kiệt quệ, của tuổi già, và của chết chóc, là không thể cam chịu được - chúng ta phải tự do khỏi cuộc đời, khỏi tất cả những cuộc sống có thể,'' Đức Phật nói thế. Và những gì tâm thức mạnh mẽ này nói đã được nói và suy tư và cảm nhận bởi hành triệu trên hàng triệu người giống như họ.
Và tôi đã nghĩ và cảm nhận điều ấy. 
(Lời Sám Hối)

“To life in the consciousness of the inevitability of suffering, of becoming enfeebled, of old age and of death, is impossible – we must free ourselves from life, from all possible life,” says Buddha. And what these strong minds said has been said and thought and felt by millions upon millions of people like them. And I have thought it and felt it.
(A CONFESSION)
  
Sir Arthur Charles Clarke (1917- 2008)
"Trong những niềm tin đã hiện hữu trước khi có sự ra đời của những Đấng Tối Cao, chỉ một hình thức Đạo Phật thuần khiết- có lẻ là một tôn giáo chân thật nhất - vẫn tồn tại."
(Sự Kết Thúc của Tuổi Thơ)
Đạo Phật Sẽ Lan Truyền đến Phương Tây

“Of the faiths that had existed before the coming of the Overlords, only a form of purified Buddhism-perhaps the most austere of all religions-still survived.” 
(Childhood’s End)
Buddhism will spread to the West.
 
Arnold J Toynbee (1889-1975) 
"Việc Đạo Phật đến phương Tây có thể chứng minh rõ ràng là sự kiện quan trọng nhất của thế kỷ hai mươi."

“The coming of Buddhism to the West may well prove to be the most important event of the Twentieth Century.”
 
  
Dự Đoán trong Tương Lai

 

Richard J. Davidson, Ph.D., Lab Director
(born December 12, 1951)
 
Vào năm 2050…
* Việc luyện tập tinh thần sẽ được chấp nhận và thực hành trong cùng cách như việc luyện tập thân thể hiện nay.
 
* Chúng ta sẽ có một môn khoa học về những phẩm chất đạo đức.
 
* Chúng ta sẽ kết hợp chặc chẽ tâm thức trở lại với thuốc men và thấu hiểu tốt đẹp hơn về vấn đề não bộ có thể điều chỉnh sinh học ngoại biên trong những cung cách tác động đến sức khỏe. Điều này sẽ hướng chúng ta đến việc chịu trách nhiệm hơn cho sức khỏe của chúng ta.
 
* Chúng ta sẽ phát triển một sự tiếp cận thế tục để cung ứng những phương pháp và những sự thực hành từ các truyền thống quán chiếu để:
 
— Dạy giáo viên và trẻ em những cách để điều chỉnh cảm xúc tốt đẹp hơn và sự chú ý và trau dồi những phẩm chất như tử tế và từ bi.
 
— Thay đổi những sự trừng phạt vì thế sự tha thứ có thể được trau dồi trong những nạn nhân và sự điều chỉnh cảm xúc và sự giảm thiểu căng thẳng trong những người phạm lỗi.
 
— Gia tăng tỉnh thức về mối liên hệ hổ tương với những người khác và với hành tinh và thêm những người chịu trách nhiệm săn sóc môi trường quý giá của chúng ta.
 
— Thúc đẩy sự chấp nhận mở rộng hơn vào trong những tổ chức văn hóa quan trọng của chúng ta. Điều này sẽ giúp để khôi phục tính lịch sự, khiêm tốn, biết ơn và những đạo đức khác trong văn hóa của chúng ta.
 
Chuyển hóa tâm thức, thay đổi não bộ chúng ta
In 2050…
 
* Mental exercise will be accepted and practiced in the same way physical excercise is today.
 
* We will have a science of virtuous qualities
 
* We will incorporate the mind back into medicine and better understand how the brain can modulate peripheral biology biology in ways that affect health. This will lead us to take more responsibility for our own health
 
* We will develop a secular approach to provide methods and pracitces from contemplative traditions to:
 
— Teach teachers and chidren ways to better regulate emotions and attention and cutivate qua lities like kindness and compassion
 
— Transform corrections so that forgiveness can be cultivated in victims and emotion regulation and stess reduction in offenders.
— Increase awreness of our interdependence upon others and upon the planet and be more responsible caretakers of our precious environment
 
— Promote thrir more widespread adoption into the major institutions of our culture. This will help to restore civility, humility, gratitude and other virtues in our culture.
Transform Your Mind, Change Your Brain
 
Ẩn Tâm Lộ ngày 17/6/2012
http://rmvvision.wordpress.com/category/buddhism-in-the-eyes-of-intellectuals/
 
Không thể thực hiện tác vụ do chủ đề hiện đang ở trạng thái lưu trữ

[size=5]Nhận Định Của ALBERT EINSTEIN Về Phật Giáo[/size]
 

Albert Einstein, cha đẻ của thuyết tương đối, đã phát biểu như sau:
“Tôn giáo tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt trên mọi ý nghĩa về Thượng đế và tránh nói đến những giáo lý và thần học. Tôn giáo ấy sẽ bao quát tất cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên cơ sở đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể mà không rời nhất thể. Phật giáo đáp ứng được những yêu cầu ấy. Nếu có một tôn giáo nào có thể đương đầu được với những nhu cầu hiện đại của khoa học thì đó là Phật Giáo”
[The religion of the future will be a cosmic religion. It should transcend personal God and avoid dogma and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense arising from the experience of all things natural and spiritual as a meaningful unity. Buddhism answers this description. If there is any religion that could cope with modern scientific needs it would be Buddhism.]

Ngoài ra, Einstein cũng cò đưa ra những nhận xét sau đây:

" PHẬT GIÁO KHÔNG CẦN XÉT LẠI QUAN ĐIỂM CỦA MÌNH ĐỂ CẬP NHẬT HÓA VỚI NHỮNG KHÁM PHÁ MỚI CỦA KHOA HỌC. PHẬT GIÁO KHÔNG CẦN TỪ BỎ NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA MÌNH ĐỂ CHẤP NHẬN KHOA HỌC, BỞI VÌ PHẬT GIÁO BAO GỒM KHOA HỌC, ĐỒNG THỜI CŨNG VƯỢT QUA KHOA HỌC. Phật Giáo là một chiếc cầu nối liền tôn giáo và những tư tưởng khoa học. Chiếc cầu Phật Giáo đã kích thích con người khám phá ra những tiềm năng lớn lao nằm sâu kín trong chính con người và trong môi trường sống chung quanh. PHẬT GIÁO SIÊU VIỆT THỜI GIAN VÀ MÃI MÃI CÓ GIÁ TRỊ."

 
Nguồn [size=2]nhuthy.blogspot.com/2011/01/nhan-inh-cua-albert-einstein-ve-phat.html[/size]

Nhà Khoa Học Albert Einstein và Đạo PhậtThích Nguyên Tạng
Gần đây có nhiều độc giả thắc mắc về mối liên hệ giữa nhà khoa học thiên tài Albert Einstein (1879-1955) và Đạo Phật như thế nào? Vì họ thấy đây đó có nhiều trích dẫn lời phát biểu của ông về Đạo Phật. Bài viết sau đây sẽ đề cập đến mối liên hệ ấy. Dù chưa đầy đủ lắm, nhưng hy vọng rằng nó sẽ là mấu chốt để chúng ta phăng tìm những tư liệu chi tiết về sau.

Ông Albert Einstein, sinh ngày 14 tháng 03 năm 1879 tại thành phố Ulm, Đức quốc, trong một gia đình làm nghề thủ công và tiểu thương. Bố là một người giỏi về hóa học và mẹ là người có khiếu về âm nhạc. Năm 1894, gia đình ông di cư sang sống tại Ý. Ông được bố gởi đi học ở Thụy Sĩ và đã tốt nghiệp tiến sĩ triết học tại Đại học Zurich. Sau khi ra trường, ông được mời dạy toán và vật lý tại một trường bách khoa ở Thụy Sĩ, ngoài việc dạy học, ông dành hết thời gian còn lại để nghiên cứu vật lý học và ông còn làm việc tại văn phòng thẩm tra cấp bằng sáng chế ở Berne, Thụy Sĩ. Năm 1905, ông gởi đăng bài "Lý thuyết tương đối hẹp" dài 5 trang trên tờ Physics. Bài báo nhanh chóng được chú ý và nó là tiếng nổ lớn của ngành khoa học về không gian và thời gian, ông đã phá vỡ các khái niệm tuyệt đối về không gian và thời gian của nhà vật lý học và toán học vĩ đại, Issaac Newton (1642-1727). Lập tức tên tuổi của ông được nhiều người biết tới và được xem là một khoa học gia nổi tiếng nhất vào thời điểm ấy.

Năm 1911, Ông là giáo sư vật lý ở Prague. Năm 1913, ông được mời làm giám đốc Học Viện Vật Lý Hoàng Đế Wilhelm tại Berlin. Đến năm 1921, ông được trao giải thưởng Nobel về Vật lý học qua đề án nghiên cứu "Lý Thuyết Tương đối" (The Theory of Relativity). Trong thế chiến thứ nhất (1914-1918), ông từng bị tống giam vì tội "chống chiến tranh và ủng hộ hòa bình". Sau khi Adolf Hitler (1889-1945) trở thành quốc trưởng của Đức, ông ra sức chống lại chủ nghĩa phát xít và rời bỏ nước Đức sang sống tại Hoa Kỳ. Từ năm 1933 đến năm 1945, ông là giáo sư toán và lý tại Viện Cao học Princeton ở bang New Jersey. Phát xuất từ lòng căm thù chủ nghĩa phát xít mà ông đã giúp cho Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt (1882-1945) chế tạo bom nguyên tử và cuối cùng bị xem là "cha đẻ" của thứ vũ khí giết người này. Đây cũng là lý do mà về sau năm 1950, ông thành lập Viện Kiểm Soát Nguyên tử Quốc tế tại Hoa Kỳ.
Ba thập niên cuối đời mình, ông dành thời gian để nghiên cứu về "Lý thuyết thống nhất giữa lực hấp dẫn và hiện tượng điện quang" (The Theory of unify gravitation and eletro-magnetism).
Mặc dù bận rộn nghiên cứu và giảng dạy khoa học, nhưng ông Einstein vẫn dành thời gian nhất định để nghiên cứu triết học và tôn giáo, đặc biệt trong đó có Đạo Phật. Theo tài liệu "The World As I See It" (Trần thế khi tôi nhìn thấy no鬠nhà xb Philosophical Library, New York, 1949) và quyển "Ideas and Opinions" (Những Ý Kiến và Những Quan Điểm, nhà xb Crown, NY, 1945) là hai tuyển tập những bài báo, bài tham luận về tôn giáo và khoa học mà ông Einstein viết từ đầu những năm ba mươi. Đáng chú ý trong tập này là các bài như "Religion and Science" (Tôn giáo và Khoa học), viết từ 1930 ; bài "Science, Philosophy & Religion, A Sumposium" (Khoa học, Triết học và Tôn giáo, một buổi hội thảo) viết năm 1941 ; bài "Religion and Science: Irreconcilable ?" (Tôn giáo và Khoa học: không thể hòa giải được sao ?) viết vào năm 1948.
Theo các tài liệu trên thì chính A. Einstein tự xem mình là một người thuộc về tôn giáo. Tôn giáo của ông được người ta biết qua lý thuyết khoa học của ông. Ông bác bỏ sự thần thánh hóa trong tôn giáo, ông quan tâm đến đời sống con người ở hiện tại và ngay cả sau khi chết. Trong các buổi hội thảo về triết học và tôn giáo, có lúc ông trích dẫn lời của Chúa, rồi có khi ông dẫn lời trong kinh Phật. Quan điểm của ông về tôn giáo chưa bao giờ có hệ thống và nhất quán. Tuy nhiên, với trí tuệ sắc bén và lòng ngưỡng mộ của ông đối với các tôn giáo đã giúp cho ông hiểu đúng và chính xác về các tôn giáo mà ông để tâm nghiên cứu. Ông vẫn thường nhắc nhở các nhà khoa học nên học hỏi ở các tôn giáo để bổ sung cho những khiếm khuyết của khoa học. Ông nói : "Khoa học mà thiếu tôn giáo là khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng" (Science without religion is lame. Reigion without science is blind).
Cũng theo các tài liệu trên cho thấy, ông đã nghiên cứu Đạo Phật qua các sách báo của các học giả Phật học của người Âu Mỹ viết, đáng kể là triết gia người Đức Schopenhauer Arthur (1788-1860), tiến sĩ người Đức Paul Carus (1852-1919), viện sĩ hàn lâm người Nga Vasily Vasaliyey (1818-1900)… là những nhà Phật học nổi danh ở phương Tây. Nhờ nghiên cứu như vậy mà A. Einstein đã nhìn thấy Đạo Phật như là một triết lý phương Đông cực kỳ sống động và triết lý ấy đã đi vào cuộc đời bằng chân lý thực chứng của mình, ngỏ hầu cắt ngang sự chậm tiến, lạc hậu, mê tín, cuồng tín và kém văn minh của thời đại. Đạo Phật đã đem lại cho con người một cái nhìn mới, một lối sống mới, một sự hài hòa mới, sống với nhau như ánh sáng trong không gian, chan hòa với nhau như nước với sữa. Chính vì thấy rõ cái độc đáo đó mà ông Einstein đã phát biểu về Đạo Phật như sau : "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó" (The religion of the future will be a cosmic religion. It would transcend a person God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sence, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description). Đồng thời, một lần khác ông cũng khẳng định rằng: "Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học" (If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism requires no revision to keep it up to date with recent scientific finding. Buddhism need no surrender its view to science, because it embrances science as well as goes beyond science). (Cả hai câu trên được trích từ Collected famous quotes from Albert Einstein. http://rescomp,stanford,edu/~ cheshire/ Einstein quotes.htm).
Dù những lý thuyết khoa học của ông rất phức tạp và khó hiểu, nhưng tấm lòng nhân đạo và mến chuộng hòa bình của ông đã khiến cho mọi người cảm thấy gần gũi với ông. Ông đã cống hiến tất cả trí tuệ và sức lực của mình
đối với sự phát triển khoa học của nhân loại. Ông làm việc không biết mệt mỏi cho đến ngày qua đời. Ông mất vào lúc 1giờ 25 phút rạng sáng ngày 19 tháng 04 năm 1955 tại Princeton, Hoa Kỳ, hưởng thọ 76 tuổi. Ngày nay, đối với mọi tín đồ Phật Giáo trên khắp năm châu đều thành kính khi nhắc đến tên tuổi của ông, người đã từng góp phần khẳng định lại giá trị vĩnh cửu đối với Giáo lý của Đạo Phật.
Tổng hợp tài liệu theo :
THE WORLD I SEE IT (Giáo sư Robert Topmiller tại đại học Kentucky, USA tháng 11/1997)
ALBERT EINSTEIN, A Biography/F. Albrecht/ Viking/USA/1997
 

 

Trong cuốn Nền Tảng Của Ðạo Phật (Fundamentals of Buddhism), Tiến sĩ Peter D. Santina, viết, “đã nhận xét Nhiều người có địa vị đáng kể trong xã hội Tây phương là Phật tử hoặc có những người không phải là Phật tửnhưng rất có cảm tình với Phật Giáo. Thí dụ cụ thể là nhà bác học Albert Einstein trong bài tự thuật rằng ông là người không tôn giáo, nhưng nếu ông là một nguời có tôn giáo thì ông phải là một Phật tử.” Nguyên văn, “There are many persons of considerable standing in western societies who are either Buddhists or who are sympathic towards Buddhism. This is most clearly exemplified by the remark made by Albert Einstein that he was not a religious man, but if he were one, he would be a Budhist.” 
Sau đây là những lý do khiến ông ca tụng Phật Giáo mà tôi trích dẫn trong cuốn “Buddhism in the Eyes of Intellectuals” của Tiến sĩ Sri Dhammananda (Phật Giáo Dưới Mắt Các Nhà Trí Thức), bản dich của Ðại Ðức Thích Tâm Quang.
1. “Tôn giáo Vũ trụ: Tôn giáo tương lai sẽ là tôn giáo chung cho cả vũ trụ. Tôn giáo này siêu việt trên một đấng Thiêng liêng nào đó và tránh hết mọi giáo điều và thần học. Bao trùm cả thiên nhiên lẫn tinh thần tôn giáo, tôn giáo này phải căn cứ vào ý niệm đang phát sinh từ những thực nghiệm của mọi vật, thiên nhiên và tinh thần như một sự thuần nhất đầy đủ ý nghĩa. Ðạo Phật đáp ứng được điều đó” – Albert Einstein (trang 54).
Nguyên văn, “Cosmic religion”: The religion of future will be a cosmic religion. It should transcend a personal God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description.“ - Albert Einstein (trang 53).
2. Nhu cầu khoa học và tôn giáo: Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng những nhu cầu của khoa học hiện đại thì tôn giáo đó phải là Phật Giáo.”- Albert Einstein (trang 115).
Nguyên văn, “Buddhism copes with science: If there is any religion that would cope with modern scientific needs it would be Buddhism” – Albert Einstein (trang 114).
Ngoài ra, những nhà trí thức nổi tiếng trên thế giới đã hết lời ca ngợi Phật Giáo nói chung và đức Phật nói riêng:
1. Vận mệnh nhân loại: Trên những giải đất mênh mông của thế giới, vận mệnh của nhân loại vẫn còn tồn tại. Rất có thể trong sự tiếp xúc với khoa học Tây phương và được cảm hứng bởi tinh thần lịch sử, giáo lý căn bản của đức Cồ Ðàm được phục hưng thuần khiết có thể chiếm một vị trí lớn trong chiều hướng của vận mệnh nhân loại.” - H. G. Well (trang 95).
Nguyên văn, “Human destiny: Over great areas of the world is still survives. It is possible that in contact with Western science, and inspired by the spirit of history, the originated teaching of Gotama revived and purified, may yet play a large part in the direction of human destiny.” – H.G.Well (trang 94).
2. Khoa học chấm dứt chỗ Phật Giáo bắt đầu: Khoa học không thể đua ra sự đoan chắc. Nhưng Phật Giáo có thể đáp ứng sự thách đố của Nguyên tử nên kiến thức siêu phàm của Phật Giáo bắt đầu ở chỗ kết thúc của khoa học. Ðó là một điều rõ ràng cho những ai nghiên cứu Phật Giáo. Vì vậy, nhờ Thiền định Phật Giáo, nhũng Phần tử cấu tạo Nguyên tủ đã được nhìn và cảm thấy…” – Egerton C. Baptist, “Supreme Science of the Buddha,” (trang 117).
Nguyên văn, “Buddhism begins where science ends: Science can give no assurance herein. But Buddhism can meet the Atomic Challenge, because the supramundante knowledge of Buddhism begins where science leaves off. And this is clear enough to anyone who has made a study of Buddhism. For, through Buddhism Meditation, the atomic constituents making up matter have been see and felt…” – Egerton C. Baptist, “Supreme Science of the Buddha” (trang 116).
3. Phật Giáo và khoa học hiện đại: Tôi đã thường nói, và tôi sẽ nói mãi, nói nữa giữa Phật Giáo và Khoa học hiện đại có quan hệ tinh thần khắn khít” – Sir Edwin Arnold (trang 115).
Nguyên văn, “Buddhism and modern science: I often said, and I shall say again and again, that between Buddhism and modern science there exists a close intellectual bond.” – Sir Edwin Arnold (trang 115).
4. Văn hóa thế giới: Phật Giáo đã mang lại sự tiến bộ cho thế giới văn minh và văn hóa chính đáng nhiều hơn là bất cứ ảnh hưởng nào khác trong lịch sử của nhân loại. – H.G. Well (trang 99).
Nguyên văn, “World Culture: Buddhism has done more for the advance of world civilization and true culture than any other influence in the chronicles of mankind” – H.G. Wells (trang 98).
5. “Tôn giáo của con người: Phật Giáo sẽ trường tòn như mặt trời và mặt trăng và loài người hiện hữu trên mặt đất; do đó, Phật Giáo là tôn giáo của con người, của nhân loại, cũng như của tất cả.” – Bandaranaike, Cựu Thủ Tướng Tích Lan (trang 65).
Nguyên văn, “Religion of Man: Buddhism will last as long as the sun and moon the human race exists upon the earth, for its religion of man, of humanity as a whole.” – Bandaranaike, Former Prime Minister of Sri Lanka (trang 65).
6. “Dharma (Giáo pháp) là Quy luật: Tất cả lời dạy của đức Phật có thể tóm tắt trong một quy luật (Pháp). Quy luật này là lẽ thật, không những hiện hữu trong tâm con người mà còn tồn tại trong vũ trụ. Tất cả trong vũ trụ đều là sự hiển lộ của Pháp (Dharma). Quy luật của thiên nhiên mà các khoa học gia hiện đại đã khám phá đều là biểu hiệu của Pháp.
Khi mặt trăng mọc và lặn là vì Pháp. Pháp là qui luật của vũ trụ khiến mọi vật tác động theo những đường lối đã được khoa Vật lý, Hóa học, Ðộng vật học, Thực vật học, và Thiên văn học nghiên cứu. Pháp hiện hữu trong vũ trụ cũng như trong tâm con người. Nếu con người sống đúng với Pháp, thì sẽ thoát khỏi khổ đau và đạt đến Niết bàn.” - Thượng tọa Mahinda (trang 81).
Nguyên văn, “Dharma is the Law: All the teachings of the Buddha can be summed in one word: ‘Dharma’. This law is righteouness, exists not only in a man’s heart but it exists in the universe also. All the universe is an embodiment of reveleation of Dharma. The law of nature which modern science have discovered are revelations of Dharma.
If the Moon rises and sets, it is because of Dharma, for Dharma is that law residing in the universe that makes matter act in the ways studied in physics, chemistry, zoology, botany and astromy. Dharma exists in the universe just as Dharma exists in the heart of man. If man will live by Dharma, he will escape misery and attain Nibbana.” – Ven A. Mahinda (trang 80).
7. “Sự ngược đãi: Trong những tôn giáo vĩ đại của lịch sử, tôi thích Phật Giáo, nhất là những dạng thức thưở ban đầu, vì tôn giáo này có ít yếu tố ngược đãi nhất.” – Bertrand Russell (trang 81).
Nguyên văn, “Persecution: Of the great religion of history, I prefer Buddhism, especially in its nearest forms, because it has the smallest element of persecution.” – Bertrand Russell (trang 80).
Tại sao Albert Einstein và những bậc khoa bảng nổi tiếng trên thế giới đã hết lời xưng tụng, tán thán Phật Giáo nói chung và Ðức Phật nói riêng? Xin mời quí vị đọc một đoạn trích dẫn trong cuốn, “Fundamentals of Buddhism” (Nền Tảng Của Ðạo Phật), của tiến sĩ Peter D. Santina, bản dịch của Ðại Ðức Thích Tâm Quang:
“….Ở Tây Phương, Phật Giáo đang được chú ý và gây được thiện cảm rộng rãi khắp nơi. Nhiều người có địa vị đáng kể trong xã hội Tây Phương là Phật tử, hoặc có những người không phải là Phật tử nhưng rất có cảm tình với Phật Giáo.
Nhìn vào xã hội Tây Phương hiện nay, chúng ta thấy một nhà vật lý thiên văn học là một Phật tử tại Pháp, một nhà tâm lý nổi tiếng là Phật tử tại Ðại Học La Mã, và mới đây một vị chánh án tại Anh Quốc cũng là Phật tử. Chúng ta hãy xét kỹ những lý do khiến Phật Giáo được chú ý hiện nay ở Tây Phương.
Nói chung tại Âu Châu có thái độ chú ý đến Phật Giáo vì tôn giáo này rất tiến bộ, rất hợp lý, và rất tinh vi. Cho nên chúng tôi ngạc nhiên khi đến một quốc giao Á Châu lại thấy người dân ở đây coi Phật Giáo như một tôn giáo lỗi thời, không hợp lý và có nhiều liên hệ với mê tín dị đoan.
Người Tây Phương thấy giá trị của Phật Giáo bởi vì Phật Giáo không kết chặt với văn hóa, Phật Giáo không ràng buộc vào một xã hội đặc biệt, vào một chủng tộc nào hay vào một nhóm thiểu sổ nào. Có những tôn giáo gắn liền với văn hóa, chẳng hạn như Do Thái Giáo gắn liền với văn hóa, nhưng Phật Giáo lại không. Cho nên trong lịch sử Phật Giáo ta thấy có Phật tử Ấn, Thái, Trung Hoa, Tích Lan, Miến Ðiện v.v… và chúng ta có Phật tử Anh, Phật tử Hoa Kỳ, Phật tử Pháp v.v… Ðó là lý do Phật Giáo không gắn bó với văn hóa.
Phật Giáo nhập hội dễ dàng từ văn hóa này đến văn hós khác bởi vì Phật Giáo chú trọng đến việc chuyển hóa nội tâm hơn là ở bên ngoài. Nếu ta nhìn kỹ cách lý giải của Ðức Phật về vấn đề kiến thức, ta thấy phương cách của Ngài tương tự như cách lý giải của khoa học, và điều này đã khiến người Phương Tây hết sức chú ý đến.
Việc chú trọng ngày càng tăng và những giáo lý hấp dẫn của Ðạo Phật cùng với khuynh hướng mới của khoa học, triết học, và tâm lý học lúc này lên cao đến tột đỉnh như khoa Vật Lý Nguyên Lượng đã được đề xuất. Ðó là những triển khai cuối cùng của những lý thuyết vật lý đã được thể nghiệm. Rồi chúng ta thấy không những Ðức Phật đã tiên đoán những phương pháp phân tích của khoa học mà còn dạy rõ về bản chất của con người và vũ trụ như đã nói trong phần triển khai gần đây của Vật Lý lượng Tử. Cách đây không lâu, một nhà Vật lý học nổi tiếng nhận xét vũ trụ giống như một tâm tưởng vĩ đại. Ðiều này đã được nói trong Kinh Dhammapada (Kinh Pháp Cú): “Tâm dẫn đầu mọi pháp, tâm chủ, tâm tạo tác. ‘Sự liên hệ giữa vật chất và năng lượng cũng đã được nói đến. Không có sự phân chia cơ bản nào giữa Tâm và Vật. Tất cả những lời dạy đó đã những tiến bộ mới nhất của khoa học tuần tự khám phá.
Cho nên, điều cho thấy trong học quy (văn cảnh) của Tây Phưong, các nhà tâm lý và khoa học tìm thấy một truyền thống Phật Giáo phù hợp với những nguyên tắc căn bản về tư tưởng khoa học của Tây Phưong. Thêm vào đó, họ thấy Phật Giáo rất đặc sắc vì những phát minh của họ thường tương đồng với Phật Giáo. Họ cũng thấy rằng cho đến nay khoa học không mở con đường nào hay phương pháp nào có thể hoàn tất được việc chuyển hóa nội tâm. Họ có những phương thức xây dựng, cải tiến các thành phố, xa lộ; nhưng họ không có một hệ thống nào có thể xây dựng con người tốt hơn được.
Cho nên người Tây Phương quay về với Phật Giáo. Là một truyền thống lâu đời, Phật Giáo có nhiều khía cạnh gần giống như việc thực hành trong truyền thống khoa học Tây Phương. Nhưng Phật Giáo vượt qua truyền thống duy vật của Tây Phưong và vượt qua giới hạn của truyền thống khoa hoc.” – Dr. Peter D. Santina, tác giả cuốn Fundamentals of Buddhism (Nền Tảng của Phật Giáo).
(Trích đạo phật siêu khoa học)

Tìm Hiểu Đạo Phật
Thích Viên Giác
 
05 tháng 4, 2008
 
 
I. Lời mở đầu
Đạo Phật là một tôn giáo lớn của nhân loại; ảnh hưởng của đạo Phật đối với con người và xã hội, mang ý nghĩa rất lớn trong quá trình tiến bộ của con người, và đã tạo nên nền văn hóa nhân bản theo tinh thần của xã hội Á Đông hơn 2.000 năm qua. Đạo Phật đã và đang chinh phục phương Tây một cách nhẹ nhàng đầy tính cảm hóa. Rhys Davids, giáo sư sử học, phát biểu: "Là Phật tử hay không là Phật tử, tôi đã quan sát mọi hệ thống của các tôn giáo trên thế giới, tôi đã khám phá ra rằng không một tôn giáo nào có thể vượt qua được về phương diện vẻ đẹp và sự quán triệt của Bát chánh đạo và Tứ diệu đế của Đức Phật. Tôi rất mãn nguyện đem ứng dụng cuộc đời tôi theo con đường đó".
Không dừng ở đây, người phương Tây còn hy vọng đạo Phật sẽ làm nền tảng cho tôn giáo của tương lai; nhân loại cần phải có một tôn giáo đáp ứng được nhu cầu sống còn và sự phát triển phù hợp với điều kiện mới của xã hội. Sự tiến bộ quá nhanh của khoa học kỹ thuật đã tạo ra những khủng hoảng xã hội, mất thăng bằng về sinh thái, về văn hóa, tâm lý, đạo đức… Albert Einstein, nhà vật lý học, cho rằng: "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi phương diện trên, trong cái nhất thể đầy ý nghĩa. Chỉ có đạo Phật đáp ứng đủ các điều kiện ấy".
Đạo Phật có gì đặc biệt mà được sự thiện cảm và ca ngợi của con người thời đại? Có lẽ điều nổi bật là đạo Phật là một tôn giáo không có Thượng đế, một nền giáo lý không có giáo điều.
Đức Phật, tiếng Phạn gọi là Buddha, nghĩa là người Giác Ngộ, người Tỉnh thức, người đã tận diệt tham sân si, đã đạt được giải thoát viên mãn. Đạo Phật là con đường do Đức Phật tuyên bố, truyền đạt; con đường ấy đã được thực nghiệm, thực chứng. Vậy có thể nói rằng đạo Phật là phương thức sống, lẽ sống, lối sống để có được hạnh phúc chân thật, như Giám mục Milman nhận xét: "Tôi càng ngày càng cảm thấy Đức Thích Ca Mâu Ni gần gũi nhất trong tính cách và ảnh hưởng của Ngài; Ngài là đường lối, là chân lý, là lẽ sống".
Tính cách của Đức Phật được thể hiện qua các kinh điển còn lưu lại, cho thấy Ngài chỉ dạy những gì Ngài đã thực nghiệm, cần thiết cho đời sống thoát khổ. Do vậy, nội dung của đạo Phật không ở nghi lễ, triết học hay thần thoại, mà chính là ở trong lối sống, cách ứng xử đối với bản thân, giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên vũ trụ.
 
II. Mục đích của đạo Phật
Người Phật tử quy y theo Phật, thực tập hành trì tụng kinh, niệm Phật, nghiên cứu kinh điển, tọa thiền, hành đạo… có mục đích rất rõ rệt. Kinh Trung A Hàm, Đức Phật dạy 3 mục đích chính:
1. Muốn tự điều phục mình: Tự điều phục tất là làm chủ được bản thân mình, là chế ngự được tham dục, sân hận, ác ý. Như vậy, tự điều phục mình có nghĩa là đạt được sự tự do. Tự do là khát vọng muôn đời của nhân loại, là nhu cầu thiết yếu sau nhu cầu ăn uống, nhưng bản chất của tự do là gì thì không giống nhau. Con người càng tìm kiếm tự do ở bên ngoài thì càng mất tự do, đến nỗi có người nói: "Con người chỉ có tự do lựa chọn sự mất tự do". Khái niệm về mất tự do trong đạo Phật là sự bị trói buộc, bị vướng mắc vào dục vọng, sân hận, hãm hại. Cho nên tự điều phục mình, chế ngự bản năng dục vọng của mình, tự chiến thắng mình là sự tự vươn tới tự do.
Đức Phật dạy thêm rằng, người Phật tử có khả năng tự điều phục mình thì dù mưu cầu lợi lộc, công danh, sự nghiệp, xây dựng tình yêu… khi những cái ấy bị thất bại, bị thay đổi, bị phản bội… người ấy vẫn an ổn, vững chãi, không bị ưu sầu phiền muộn, khóc than, phát cuồng, tự tử… Đó là mục đích thứ nhất của đạo Phật.
2. Muốn đạt được sự thanh tịnh, an lạc: Sự an lạc tùy thuộc vào tư duy, cảm xúc của con người. Nếu tâm tư của một người bị chi phối, bị chế ngự bởi sự lo lắng, buồn rầu, sợ hãi thì họ không thể có an lạc. An lạc và hạnh phúc đi đội với nhau; hạnh phúc có hay không tùy thuộc vào thái độ tâm lý ổn định hay không. Một người mạnh khỏe và giàu có, nhưng trong lòng sôi sục dục vọng hay hận thù thì người ấy không thể có sự an lạc và hạnh phúc; một người đầy danh vọng và sự thành đạt mà trong lòng sự lo lắng bất an, sợ hãi chế ngự thì không thể có hạnh phúc được.
Đức Phật dạy rằng, một người đạt được sự thanh tịnh, an lạc là người khi có điều không vui đến, những điều lo âu, sợ hãi đến thì không bị chúng làm chi phối, vướng bận; rằng một người không bị chi phối, vướng bận với cái tư duy tham dục, sân hận và ác ý; rằng một người đạt được các trạng thái thanh tịnh như sơ thiền cho đến tứ thiền, như theo lời kinh Pháp Cú dạy: "Không có hạnh phúc nào lớn bằng sự yên tĩnh của tâm trí". Đây là mục tiêu thứ hai của đạo Phật.
3. Muốn đạt được giải thoát - Niết bàn: Đây là mục đích tối hậu của mọi người Phật tử: chấm dứt mọi đau khổ, thoát ly sanh tử, luân hồi, thành tựu trí tuệ viên mãn. Nỗi khổ thật sự và lâu dài chính là vô minh; niềm hạnh phúc chân thật và vĩnh cửu là sự chấm dứt vô minh, đó là đáo bỉ ngạn, là "vô minh diệt minh sanh".
Mục đích đó có thể chia làm 2 phần: mục đích gần và mục đích xa. Gần là sư vươn tới đời sống tự do và hạnh phúc, xa là đạt đến an lạc vĩnh cửu Niết bàn. Giáo pháp của Phật giúp con người kềm chế, làm chủ bản thân. Đây là bước đầu, là nền tảng của mọi đức hạnh, mọi tiến bộ, từ đó thực hiện sự thanh tịnh và an lạc của tâm linh, chuyển hóa toàn bộ đời sống đã từng mang bất an ổn và hạnh phúc. Nói mục đích gần và xa là để dễ hiểu, thực ra cả hai là một. Thực hiện được tự do tự chủ là đưa đến an lạc, hạnh phúc. Có được an lạc, hạnh phúc dẫn đến giải thoát Niết bàn. Niết bàn được thực hiện ngay cõi đời này.
 
III. Những đặc tính tiêu biểu của đạo Phật:
1. Tự do tư tưởng: Đạo Phật không có hệ thống tín điều, không lấy tín điều làm căn bản như hầu hết các tôn giáo. Đức tin của đạo Phật luôn đi đôi với cái "thấy", một trong những định nghĩa về giáo pháp là "đến để mà thấy", chứ không phải "đến để mà tin". Vì vậy, chánh kiến luôn đứng đầu trong các đức tính.
Lời Phật dạy cho dân Kàlama được các nhà học giả phương Tây coi là bản tuyên ngôn về tự do tư tưởng của nhân loại: "Này các Kàlama, đừng để bị dẫn dắt bởi những báo cáo, hay bởi truyền thống, hay bởi tin đồn. Đừng để bị dẫn dắt bởi thẩm quyền kinh điển, hay bởi lý luận suông, hay bởi suy lý, hay bởi sự xét đoán bề ngoài, hay bởi vì thích thú trong những lý luận, hay bởi những điều dường như có thể xảy ra, hay bởi ý nghĩ đây là bậc Đạo sư của chúng ta. Nhưng này các Kàlama, khi nào các ông biết chắc rằng những điều ấy là thiện, là tốt, hãy chấp nhận và theo chúng" (Tăng Chi I).
Bác bỏ các tín điều và đức tin mù quáng, khuyến khích tự do phân tích, khảo sát, đó là một đặc điểm của Phật giáo.
2. Tinh thần tự lực: Đấng Thượng đế hoặc tạo hóa hay các thần linh được con người tin tưởng thở phụng, vì các đấng ấy có thể ban phúc hay giáng họa.. Ấy là quan điểm của tâm lý sợ hãi, yếu đuối, mất tự tín đã sản sinh ra thần thánh (hoặc đa thần hoặc nhất thần).
Đạo Phật với chủ trương luật nhân quả, nghiệp báo đã nói lên tinh thần trách nhiệm cá nhân và cộng đồng trước sự đau khổ và hạnh phúc của chính mình.. Đức Phật dạy: "Chính ta là kẻ thừa kế của hành động của ta, là người mang theo với mình hành động của mình" (Tạp A Hàm, 135).
Đức Phật không phải là đấng thần linh ban cho ta sự thay đổi hoàn cảnh hay tình trạng khốn đốn của mình. Đức Phật tuyên bố: "Như Lai chỉ là người chỉ đường, mỗi người phải tự đi đến, không ai đi thế cho ai được". Công trình khơi mở kho tàng tri kiến Phật là công trình của mỗi cá nhân. Con đường tự lực ấy được Đức Phật dạy như sau: "Này các Tỳ kheo, hãy tự mình thắp lên ngọn đuốc của chính mình, thắp lên với chánh pháp, đừng thắp lên vơ1i một pháp nào khác. Hãy tự mình làm chỗ nương tựa của chính mình, nương tựa với chánh pháp, đừng nương tựa với một pháp nào khác" (Trường A Hàm I).
Tinh thần tự lực mang tính triệt để nhân bản này là một đặc tính của đạo Phật.
3. Tinh thần từ, bi, hỷ, xả: Chúng sanh còn khổ thì đạo Phật còn vai trò và vị trí ở cuộc đời; đạo Phật thường được gọi là đạo từ bi, đạo cứu khổ. Ở đâu có đạo Phật, ở đó có tình thương, ở đó hận thù được hóa giải. Bởi lẽ phương châm tu tập của Phật giáo là từ, bi, hỷ, xả, còn gọi là Tứ vô lượng tâm. Người Phật tử lấy từ, bi, hỷ, xả làm nền tảng cho sự phát triển thánh hạnh; tâm từ bi được coi là tâm Phật.
Trong quá trình truyền giáo, đạo Phật chưa bao giờ gây chiến tranh hay đổ máu, thông điệp tình thương cứu khổ, giúp đời đã được Đức Phật tuyên thuyết ngay từ thời kỳ sơ khai thành lập Giáo đoàn: "Này các Tỳ kheo, hãy du hành vì hạnh phúc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người".
Tâm từ là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân. Tâm bi là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm hỷ là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm xả là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Đức Phật dạy người Phật tử tu tập Tứ vô lượng tâm: "Vị ấy tâm an trú biến mãn một phương cho đến mười phương với tâm từ, bi, hỷ, xả quảng đại vô biên, không hận, không sân… đối với mọi hình thức của sự sống, không bỏ qua và bỏ sót một ai mà không biến mãn với tâm giải thoát cùng với từ, bi, hỷ, xả (Trường Bộ I)". Thương yêu đồng loại và vạn loại chúng sanh là chất liệu sống của đạo Phật.
4. Tinh thần thực tiễn: Một trong những định nghĩa về pháp là "thiết thực hiện tại", nghĩa là giáo lý đạo Phật là thiết thực, không mơ hồ, mang tính thực tiễn, có tác dụng cụ thể, không phải lý thuyết suông. "Hiện tại" có nghĩa là không chờ đợi kết quả của tương lai, có tu tập là có hướng thượng, có giải thoát ngay hiện tại, đời này. Vì vậy, giáo lý đạo Phật là giáo lý thực nghiệm, không chờ đợi một ân sủng hay một mặc khải nào. Đức Phật thường từ chối trả lời những câu hỏi về những vấn đề siêu hình. Ngài chỉ dạy những gì cần thiết cho cuộc đời, cho con đường thoát khổ. Có lần ở Kosambi, Đức Phật dạy: "Những gì Như Lai biết ví như lá trong rừng, còn những gì Như Lai giảng dạy như nắm là ở trong tay, nhưng đây là những phương pháp diệt khổ" (Tương Ưng V).
Đạo Phật cho rằng phần lớn những nỗi khổ của con người do họ không sống thật với hiện tại, họ thường nuối tiếc quá khứ, mơ tưởng tương lai; do đó, ý nghĩa của cuộc đời bị đánh mất:
"Do mong việc sắp tới
Do than việc đã qua
Nên kẻ nghi héo mòn
Như lau xanh lìa cành" (Tương Ưng I)

Hoặc:
"Đừng tìm về quá khứ
Đừng tưởng tới tương lai
Quá khứ đã không còn
Tương lai thì chưa tới
Hãy quán chiếu sự sống
Trong giờ phút hiện tại…" (Kinh Trung Bộ)

Tính thực tiễn, thiết thực hiện tại là một đặc tính của đạo Phật.
5. Tinh thần không chấp thủ: Đạo Phật là giải thoát và tự do; vướng mắc vào bất cứ điều gì cũng đều đưa đến đau khổ. Đức Phật dạy: "Cuộc đời là vô thường, nên nó đem đến đau khổ (vì chấp là thường). Cái vô thường mà ta cho là của ta, là ta thì hoàn toàn không hợp lý". Giải thoát là vượt thoát mọi ràng buộc, bám víu vào cuộc đời.
Nhờ tinh thần không chấp thủ nên thái độ củ đạo Phật rộng rãi, bao dung, tinh thần tu tập của người Phật tử rất thoáng. Kinh Ví dụ con rắn (Trung Bộ), Đức Phật ví dụ giáo pháp như chiếc bè để qua sông, không phải để nắm giữ; chánh pháp như chiếc bè, chánh pháp cũng phải xả huống là phi pháp. Tương tự, kinh Kim Cang cũng nói: "Giáo lý như phiệt dụ giả chánh pháp thương ưng xả hà huống phi pháp", hoặc nói: "Cái gọi là Phật pháp tức chẳng phải là Phật pháp nên gọi là Phật pháp".
Tinh thần không chấp thủ là nội dung trí tuệ của đạo Phật; tác dụng của tinh thần ấy ngoài, sự đem đến giải thoát, còn đem đến sự giải tỏa tất cả mọi áp lực, ức chế của đời sống lên trên tâm lý của con người. Đây là một đặc tính của Phật.
IV. Kết luận
Sự có mặt của đạo Phật đã đem lại nguồn khí mới cho xã hội Ấn Độ thời ấy, đã mở ra một lối thoát cho con người trước những bế tắc, những khủng hoảng về xã hội, về tư tưởng triết học và đạo học. Lời tán dương Đức Phật của người đương thời còn ghi chép lại đã chứng minh diều đó: "Thưa Ngài Cồ Đàm, thật vi diệu, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để cho ai có mặt có thể thấy" (Nikàya).
Trải qua hơn 2.500 năm, đạo Phật đã được thử thách, cọ xát với thời gian và không gian; giá trị, tác dụng của đạo Phật vẫn như xưa. Ngày nay, trước tiến bộ văn minh vật chất quá độ đã xô đẩy con người vào trong hố thẳm của tham vọng, hận thù. Chiến tranh vẫn diễn ra khốc liệt trên thế giới, nghèo đói, bệnh tật, thiên tai vẫn đe dọa đời sống của nhân loại. Càng văn minh, con người càng có nhiều nỗi lo lắng, sợ hãi mới: nạn nhân mãn, ô nhiễm mo6i trường, hủy diệt sinh thái, áp lực kinh tế xã hội đè nặng lên trên tâm trí của con người tạo nên ức chế tâm lý. băng hoại về đạo đức làm mất thăng bằng giữa đạo đức và hưởng thụ. Đạo Phật với con đường thoát khổ thiết thực, nhân bản, với phương châm từ bi hỷ xả xóa bỏ chấp thủ, hận thù sẽ tiếp tục sứ mệnh hóa giải khổ đau cho nhân loại.
Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều có khả năng giác ngộ, có khả năng thực hiện niềm hạnh phúc chân thật trên cõi đời này. Đó là lời dạy của Đức Phật.
 
 

khen đạo Phat là thừa thãi , chỉ cần thực hành là được rồi ..

Chủ đề cùng mục


Đạo Phật, of the, in the, thực hành, tâm lý, Đức Phật, to the, we must, vật lý, CA NGỢI ĐẠO,
https://linkvaobong88ag.club Lời Ca Khúc Tin mới Tin bóng đá Chords up

Bản quyền bởi VietYO.com v3.0 - Viet Nam Youth Online
Diễn đàn mở của cộng đồng người Việt trẻ online - Liên hệ (info @ vietyo.com)