Tin tức - pháp luật 2011-08-11 11:10:51

Những bức ảnh và câu chuyện lịch sử


1. Bức ảnh làm cả thế giới bàng hoàng



Bức ảnh đoạt giải Pulitzer 1994 này được chụp khi xảy ra nạn đói khủng khiếp ở Xuđăng, mô tả một em bé đang đói lả nhưng vẫn cố bò về phía trại phân phát lương thực của Liên Hợp Quốc, cách đó khoảng 1km. Con chim kền kền đang chờ đứa trẻ bị chết để nó có thể ăn thịt.

Bức ảnh đã làm cho cả thế giới bàng hoàng. Không ai biết điều gì xảy ra với em bé, kể cả nhà nhiếp ảnh Kevin Carter, người đã rời ngay khỏi hiện trường sau khi chụp. Ba tháng sau, Kevin tự sát.

Kevin Carter (1961-1994) là nhà nhiếp ảnh tự do người Nam Phi, từng làm việc cho Reuters và Sygma Photo NY, và là cựu biên tập viên ảnh của Mail&Gaurdian.

Anh cũng nhiều lần được trao giải thưởng danh giá là Giải thưởng Ảnh báo chí Ilford, trong đó có một lần ở thể loại Tin ảnh Xuất sắc nhất năm 1993.

2. Bức ảnh thay đổi cái nhìn về chiến tranh


Bức ảnh chụp cô bé Kim Phúc trần truồng chạy trốn bom Napalm Mỹ - một trong những bức ảnh báo chí xuất sắc nhất thế giới qua mọi thời đại của tạp chí LIFE - là tác phẩm ảnh báo chí thời sự tiêu biểu nhất trong đời cầm máy của phóng viên ảnh Nick Út.

Nick Ut chụp Phan Thị Kim Phúc lên 9 tuổi vào tháng 6 năm 1972, lúc đó một máy bay của quân đội Nam Việt Nam đã ném nhầm bom cháy Napalm vào chính binh lính của mình và dân thường.

Bức ảnh do Nick Ut phóng viên của AP chụp được “đã cảnh tỉnh nước Mỹ về sự khủng khiếp của chiến tranh Việt Nam”

Thật ra những sự kiện xảy ra vào buổi trưa 8-6-1972 ở chiến trường Trảng Bàng, Tây Ninh để đưa ra công luận bức ảnh chấn động thế giới về cô bé Kim Phúc trần trụi bị phỏng bom Napalm, được chứng kiến không chỉ có mình Nick Út. Những tấm ảnh chụp khác của anh cho thấy có hàng chục phóng viên và cameraman đang lia ống kính chỉ vài giây trước đó.

Trong chuyến trở về VN nhân dịp đại lễ 30-4 năm nay, chúng tôi đã nghe Nick Út kể lại khoảnh khắc đó: “Điều quan trọng nhất trong bức ảnh này là khi tôi giơ máy ảnh lên thì tất cả mọi người đang chạy vội về phía bà ngoại Kim Phúc với đứa trẻ hấp hối, ngáp lần cuối cùng trên tay bà. Phía sau cũng có một người đàn ông ôm xác một đứa trẻ giống như thế…

Có lẽ tất cả phim của nhiều phóng viên chiến trường đã “nướng” hết vào đó rồi. Còn tôi, khi ấy chạy vào phía trong, nghe tiếng Kim Phúc hét lên với người anh mình, tiếng thét như xé lòng: “Nóng, nóng quá anh ơi! Em khát nước, em chết!”. Sau tiếng thét khủng khiếp của cô bé nhỏ xíu ấy, tôi đã đưa máy lên và bấm”.

Sau khi chụp xong bức ảnh này, Nick Út bỏ máy ảnh xuống lộ,
lấy nước dội vết bỏng, lấy áo mưa trùm người Kim Phúc lại
và đưa em vào bệnh viện cấp cứu.

Nick Út kể tiếp: “Sau khi chụp bức ảnh, tôi đưa Kim Phúc về Bệnh viện Củ Chi, gửi Kim Phúc với lời nhắc đi nhắc lại cùng bác sĩ: “Tôi là ký giả, bằng mọi giá các anh phải cứu sống cháu bé này”. Lên xe, hành động đầu tiên của tôi là chắp tay lại và khấn người anh ruột của mình - phóng viên chiến trường Huỳnh Thành Mỹ - rằng: Em đã chụp được bức ảnh tàn khốc về chiến tranh. Hãy cho em cơ hội để cả thế giới biết đến nó!”.

Tại trụ sở văn phòng Hãng AP tại Sài Gòn, nhận tám cuộn phim từ tay Nick Út là một nhân viên phòng tối người Nhật. Anh chờ đợi trong sự hồi hộp bồn chồn. Út nghe anh chàng người Nhật thảng thốt kêu lên khi đem hình ra: “Ô, cô bé này ở truồng!”. Một đồng nghiệp người Mỹ bước lại coi rồi phán: “Hình cô bé trần truồng này phải bỏ ngay, không xài được đâu!”.

Anh rất bức xúc và gân cổ giải thích với đồng nghiệp người Mỹ rằng đó là nạn nhân bom Napalm, là nạn nhân của chiến tranh… Chốc sau Horst Faas - trưởng văn phòng đại diện AP - về tới, ông gọi Nick Út vào, hỏi cặn kẽ, coi từng tấm phim rồi ra lệnh cho anh chàng thuộc cấp: “Mày phải gửi ngay tấm ảnh này về tổng hành dinh trong vòng năm phút!”.

Horst mắt vẫn không rời bức ảnh và lầm bầm: “Gửi ngay, gửi ngay, đây là chiến tranh chứ không phải khiêu dâm!”. Chỉ một tiếng đồng hồ sau, từ New York - tổng hành dinh của Hãng tin AP - đã điện thoại sang Sài Gòn, cú điện thoại làm thay đổi cuộc đời của một phóng viên chiến trường mới toanh: “Út ơi, mày nổi tiếng trên toàn thế giới rồi!”, “Út ơi, mày là “number one” (số 1) rồi!”.

Bức ảnh được phát đi, nước Mỹ xuống đường, báo chí Nhật Bản và nhiều nước khác phóng to bằng hình thật ngay trước tòa soạn báo của họ. Vào ngày hôm sau tại Washington, hàng mấy ngàn người xuống đường biểu tình. Chiến tranh VN do Mỹ khởi xướng đã phô bày những tội ác khủng khiếp của nó chỉ qua một tấm ảnh của Nick Út!

3. Bức ảnh thay nghìn lời nói về chiến tranh tại Việt nam

Eddie Adams (1933-2004) đã chụp hình cho một số chính trị gia và các sự kiện nổi tiếng thế giới trong suốt một cuộc đời sự nghiệp dài và đầy vinh quang của mình.

Nhưng có một bức ảnh đặc biệt đeo đuổi ông cho đến cuối đời và cũng vì nó mà ông trở thành nổi tiếng nhất.

Đó là bức ảnh nổi tiếng chụp cảnh một tướng của quân đội Miền Nam hành quyết một người bị tình nghi là chiến binh Việt Cộng ở trên một đường phố Sài gòn vào ngày 1 tháng 2 năm 1968. Theo lời của tướng Nguyễn Ngọc Loan nói “Chúng nó đã giết hại nhiều đồng bào của tôi” và vị tướng này đã giơ súng lục bắn thẳng vào đầu anh ta. Bức ảnh của Adams cho thấy thời điểm viên đạn đang ghim vào đầu của nạn nhân.


Câu chuyện của tấm ảnh

(trích Phóng sự của Tom Buckley đăng trên Harper Magazine, tháng 4-1972)

Buổi chiều ngày 1-2 có 1 cuộc **ng độ nhỏ ở vùng lân cận chùa Ấn Quang, cơ quan chỉ huy của phe “chiến đấu” trong giáo hội Phật giáo. Trong lúc trận đánh đang tiếp diễn, 1 tù binh được mang đến chỗ Loan, lúc đó đang đứng với những phụ ta có lẽ cách đó nửa dãy phố. Không nói 1 lời, Loan quăng điếu thuốc và móc khẩu súng lục ra. Ông ta lấy tư thế của 1 xạ thủ, cánh tay phải giơ thẳng và, ở khoảng cách có lẽ 1 mét, bắn vào thái dương của người tù này.

Trong cơn thịnh nộ, Loan đã xem thường sự kiện là Eddie Adams, 1 nhà nhiếp ảnh của hãng Associated Press, và 1 nhóm phóng viên quay phim của hãng NBC đang ghi hình ông ta. Ông ta nhìn họ sau khi bắn và có vẻ chắc chắn rằng ông ta sẽ ra lệnh tịch thu phim của họ, nhưng không biết tại sao ông ta không làm điều đó. Trong vòng vài giờ những bức hình của Adams đã được truyền đi khắp thế giới. Đêm hôm sau cuộn phim được chiếu trên chương trình tin tức truyền hình Huntley – Brinkley.

Hai phút tin tức trôi qua, trận đánh đã tàn lụi, nhưng hình ảnh vẫn còn. Loan, mang giày ống, mặc áo giap chống đạn, là biểu tượng của sự dã man không thể cải biến. Người tù, nhỏ hơn, ốm yêu, không nhìn thấy 2 tay vì bị trói ra sau lưng, chỉ mặc 1 chiếc áo sơ mi rách nát và quần đùi. Khuôn mặt anh ta bị mép mó, bị đẩy sang 1 bên bởi tác động của viên đạn trong đầu, tóc anh ta dựng đứng, miệng hà ra như đang phát ra tiếng kêu cuối cùng.

Theo tôi đó là bước ngoặt, giây phút khi mà công chúng Mỹ xoay qua chống lại chiến tranh. Cuộc tấn công Tết Mậu Thân đã phá huỷ niềm tin vào sự đánh giá của những người đang chỉ đạo cuộc chiến; hành động giết người của Loan đã đánh dấu sự phá sản về đạo đức của nó. Cùng lúc đó dậy lên sự ngưỡng mộ miễn cưỡng đối với sự can đảm của 1 kẻ thù đã chiến đấu rất lâu mà không có đến 1 chiếc máy bay, trực thăng, xe tăng, hay đại bác chống lại 1 quốc gia hùng mạnh nhất thế giới, và những đội quân đánh thuê được tuyển từ khắp châu Á.

Có 1 sự trớ trêu tế nhị trong tất cả chuyện này. Người tù đã được xác định, hầu như chính xác, là chỉ huy 1 đơn vị đặc công Việt Cộng. Người ta nói anh ta có 1 khẩu súng lục trong người khi bị bắt giữ và đã dùng nó để bắn chết 1 tay cảnh sát. Không giống như những đơn vị chủ lực lớn ùa vào Sài Gòn, mặc quân phục ka ki, và những đặc công đã xâm nhập đại sứ quán Mỹ, những người đeo băng đỏ, người tù này không có nhận dạng giống vậy. Sự kết liễu cho anh ta có lẽ là nhẹ nhõm hơn, vì anh ta đã thoát được sự tra tấn kinh hoàng mà hầu như chắc chắn sẽ là phần mở đầu cho cái chết trong cảnh lao tù.

Vụ giết nguời này gây sốc cho cả nước Mỹ

Cuộc gặp gỡ lại một tháng sau vụ giết người
Loan hớp 1 hơi rượu pha sô đa được người lính pha sẵn cho ông ta. Những thứ này được giữ trong 1 quầy rượu di động gắn phía sau xe Jeep. Nghĩ rằng ông ta đang trong tâm trạng dễ chịu, tôi yêu cầu ông ta giải thích lý do bắn người tù ấy. “Tôi không phải là nhà chính trị, tôi không phải là chỉ huy cảnh sát. Tôi chỉ là 1 người lính… Chúng tôi biết người đàn ông này là ai. Tên anh ta là Nguyễn Tất Đạt, bí danh Hàn Sơn. Anh ta chỉ huy 1 đơn vị đặc công. Anh ta đã giết 1 cảnh sát. Anh ta đã nhổ vào mặt người bắt giữ anh ta. Anh muốn chúng tôi làm gì? Nhốt anh ta trong tù 2-3 năm rồi sau đó thả anh ta về với kẻ thù à?”.

Tướng Loan sau này

Loan được gửi sang Úc để chữa trị, nhưng bức ảnh và những bộ phim truyền hình về vụ bắn tù binh đó đã khiến ông ta mang tai tiếng. Ông ta có vẻ là mẫu người tiêu biểu của tất cả cái xấu xa và hèn nhát trong cuộc chiến nói chung và của lực lượng Nam VN nói riêng, và sự phản đối của công chúng đã buộc ông ta phải ra đi. Ông ta được đưa đến bệnh viện Walter Reed Army ở Washington. Cái chân được cưa, nhưng nó không hơn 1 cây sậy. Một thời gian lâu sau khi ông hồi phục, trong khi Thiệu đã củng cố xong quyền lực của mình, Loan và gia đình ông ta sống trong cảnh lưu vong thực sự, trong 1 ngôi nhà ở Virgina, bị CIA giám sát chặt chẽ. Khi cuối cùng ông ta được cho phép trở lại Sài Gòn, thì chỉ để nhận 1 nhiệm vụ vô nghĩa và 1 văn phòng trống không.

Sau này, Thiếu Tướng Loan cùng vợ di tản qua sinh sống tại Hoa Kỳ, mở một quán ăn nhỏ và sống một cuộc sống nghèo khó với chiếc chân tàn tật vì chiến cuộc Mậu Thân. Quán tên là LES TROIS CONTINENTS ở thành phố Springfield, tiểu bang Virginia. Ở đó, ông và gia đình bị người Mỹ sĩ nhục và làm khó khăn rất nhiều. Nhiều người Mỹ hung hăng đã xịt sơn lên tường nhà ông : "Ta đã biết ngươi là ai rồi !".

Sự day dứt của tác giả tấm hình

Sau chiến tranh , khi Tướng Loan qua đời ngày 14-07-1998, chính tác giả tấm hình trên- Eđie Adams -đă khóc :
"Genaral …tears are in my eyes …" .
Ông đă viết như thế trên tràng hoa phúng điếu tướng Nguyễn Ngọc Loan .

Bản điếu văn sám hối của Adams được tờ tuần báo TIME đăng tải ngay trong số 27-07-1998. Có đoạn

"Tôi đoạt giải Pulitzer trong năm 1969 nhờ tấm ảnh chụp một người bắn vào một người khác. Trong tấm ảnh đó có đến hai người chết : Người nhận lãnh viên đạn và Tướng Nguyễn Ngọc Loan. Ông Tướng đã giết chết người lính Việt Cộng, nhưng tôi giết ông Tướng bằng cái máy ảnh của tôi. Những tấm ảnh vốn vẫn là những thứ vũ khí kinh khủng trên thế giới. Người ta tin tưởng vào chúng, nhưng những tấm ảnh đó cũng có thể nói láo, thậm chí không cần phải ngụy tạo. Chúng chỉ nói lên được có phân nửa của sự thật. Những gì mà tấm ảnh này chưa nói lên được là : " Người ta sẽ hành động ra sao nếu họ ở vị trí của ông Tướng ở vào cái thời điểm và nơi chốn của một ngày nóng bức, khi người ta vừa bắt được một người mà trước đó đã bắn chết một, hai hay ba người lính Mỹ ?".

4. Có những con người mà chính kẻ thù cũng phải khâm phục


Đó là câu nói của ông Fidel Castro khi nói về Che Guevara - người anh hùng giải phóng dân tộc của châu Mỹ la tinh - Bức ảnh do nhiếp ảnh gia Alberto Korda (1929-2001) chụp Che Guevara tháng 3 năm 1960, đúng vào dịp lễ tưởng niệm những người thuỷ thủ Bỉ trên con tàu định mệnh chuyên chở vũ khí vào CuBa đã bị những lực lượng phản cách mạng đánh đắm. Ông đứng trên lễ đài và trong "khoảnh khắc quyết định", hình ảnh này qua ống kính "lọt vào trái tim" của Korda, và ông đã bấm máy.

Hình ảnh của Che Guevara đã biểu tượng cho khí phách, sự hiện ngang, mạnh mẽ, sống có lý tưởng và chiến đấu vì chân lý của nhiều thế hệ trẻ cho đến ngày nay.

Đây cũng là hình ảnh được sao chụp, có nhiều biến thể nhất và được in trên nhiều chất liệu nhất trên thế giới này.

Đây lại là một bức ảnh khác:Bức ảnh làm Che Guevera sống mãi

Bức ảnh chụp Che ở Bolivia vào năm 1967 khi ông đã bị chết. Trước khi chôn cất ông vào một nơi bí mật, chính quyền Bolivia khi đó quyết định cho phóng viên vào chụp ảnh để họ chứng minh rằng Che đã chết.
Nhưng đã là một huyền thoại thì những cố gắng sát hại lại tạo nên sự bất diệt. Bức ảnh này loan đi toàn thế giới và tình cảm dành cho Che lại càng sống hơn bao giờ.

5. Hãy cứu tôi (29/04/1945)

Đây là một trong những tác phẩm xuất sắc của nhiếp ảnh gia Eugene Smit (1918 - 1978). Bức ảnh được chụp trong thời kỳ 1942-1945 khi ông đưa tin về cuộc chiến ở khu vực Đại Tây Dương. Tác phẩm chụp một thương binh bị bỏ lại trên chiến trường Okinawa, xen lẫn giữa những tiếng rên xiết vì đau đớn là những lời nguyện cầu mong được sống: Hãy cứu tôi !!!


6. Bộ mặt chiến tranh

"Xác người trong ngày đầu tiên của trận chiến, Gettysburg, Pennsylvania", Mathew Brady, 1863

Những xác người, bầu trời xám xịt… những bức ảnh đầu tiên về chiến tranh được chụp khi máy ảnh mới ra đời. Mathew Brady, một người đã mất tất cả, tiền bạc, gia đình… quyết định gia nhập quân đội theo tiếng gọi của đôi chân. Ông cầm máy và ghi lại những khoảnh khắc khó quên của cuộc nội chiến Mỹ.

7. Cái chết của một người lính Iraq /Ken Jarecke

Chúng tôi đi từ phía Tây Iraq, từ Nasiriya về phía Basra, Đến đường cao tốc số 8 và bắt đầu đi về phía Nam, tới thành phố Kuwait. Hình ảnh người lính Iraq là hình ảnh vô tình tôi chợt nhìn thấy trên đường đi: một chiếc xe tải, giữa đường cao tốc hai làn xe. Tôi chỉ biết chắc là anh ta đã nỗ lực những phút giây cuối cùng trong cuộc đời, để được sống, và biết rằng cuộc đời đáng để anh ta sống. Khi phim được tráng và đến văn phòng của AP ở New York, họ in và cho mọi người xem, nhưng rồi họ rút lại. Họ cho rằng nó quá nhạy cảm, quá khủng khiếp ngay cả cho biên tập viên các tờ báo để xem, chứ đừng nói đến việc AP cho họ quyền được đăng lại không. Vì vậy, hầu như bức hình này không xuất hiện ở Mỹ. Ở Anh, tờ London Observer đã đăng bức hình này đầu tiên.

9. Baby in the box

Ngày 21 tháng 05 năm 2005, "Baby in the box" trao giải “Thành Tựu Trọn Đời" cho chính tác giả bức ảnh "Baby in the box" tại Hoa Kỳ.pray:

Nhiếp ảnh gia Chick Harrity kể:

"Chuyện là như thế này, khi tấm hình đó được gửi về New York, mọi người đều rất thích, bởi vì nó không giống những hình ảnh khác và nó được đăng trên tất cả các báo chí ở Hoa Kỳ và rất nhiều người đã liên lạc tới AP của chúng tôi để hỏi xem có cách nào nhận hai em bé đó làm con nuôi…

Các báo chí thì viết thư cho AP chúng tôi ở Sài gòn đề giúp xin địa chỉ của em bé đó. Họ cho biết rằng, có rất nhiều, rất nhiều gia đình muốn giúp đỡ và nhận hai em bé đó làm con nuôi. Chính vì thế mà tôi phải làm sao tìm lại được hai em bé đó…

Lúc bấy giờ, có vài người Việt Nam làm việc trong phòng tối, tội đưa cho họ bức hình và thuật lại moị chuyện. Chỉ hai ngày sau, họ đã dễ dàng tìm ra gia đình của em bé này vì có nhiều người ăn xin ở gần chúng tôi làm việc lắm.
Khi gặp **** của em bé, bà cho biết chồng bà là một người lính đang đi chiến đấu. Bà có 5 đưá con trai và em bé trong chiếc hộp giấy là con gái út. Vì hoàn cảnh vô cùng nghèo khổ, lương chồng không đủ nuôi 7 miệng ăn, nên các con bà phải đi ăn xin trên đường phố. Tên của em là Trần thị Hết…

Tôi đã thuật lại mọi chuyện và cho bà biết rằng có những gia đình ở bên Mỹ rất muốn nhận hai em bé trong bức hình làm con nuôi. Nhưng bà từ chối ngay lập tức, bà nói rằng cho dù hoàn cảnh khó khăn đến thế nào như chăng nữa, bà phải giữ cho bằng được tất cả các con bà dưới một mái nhà. Và bà đã làm như thế…"

Ông kể tiếp

"Khi tôi rời Việt Nam, tôi không bao giờ ngờ rằng sau này em lại được một gia đình người Mỹ nuôi…Mười năm sau, tôi không còn làm việc cho Association Press nữa và trở thành phóng viên cho Nhà trắng thì một hôm, người bạn của tôi trong AP cùng làm việc ở Sài gòn, gọi điện thoại báo rằng cô bé trong chiếc hộp giấy mà tôi chụp hình năm xưa sẽ có mặt tại Nhà trắng để gặp tổng thống Reagan và mọi người sẽ sắp xếp cho tôi để gặp lại cô bé đó…

Đó là buổi đầu tiên tôi gặp lại cô bé ấy và biết được rằng cô được gia đình bà Evelyn Heil nhận làm con nuôi từ năm 1974, khi em đến Houston chữa bệnh tim do một tổ chức từ thiện đem em sang từ Việt Nam…"

Trong buổi lễ trao giải này (05.2005). Ban tổ chức đã dành cho ông một sự bất ngờ… Ông kể lại giây phút ấy:

"Khi tôi đứng ở trên sân khấu cùng với tổng thống George W. Bush, tôi nghe vị chủ tịch của Hội Phóng Viên Nhiếp Ảnh Nhà trắng nói với tổng thống Bush rằng. “Đừng di chuyển, hãy đứng yên!” Thông thường thì ai mà nói như thế với vị tổng thống kiểu đó…

Tôi không hiểu chuyện gì đang xảy ra đây..và bỗng nhiên tôi nghe tiếng của người điều khiển chương trình xướng danh tên tôi cùng với bức hình, và người đại diện trao giải là Nhanny Heil, cô bé trong bức hình năm xưa..

Tôi vô cùng bàng hoàng và xúc động…nước mắt dàn dụa trên mặt tôi… Cuộc hội ngộ diễn ra vô cùng bất ngờ…Tất cả mọi người có mặt hôm đó đều rơi lệ, ngay cả tổng thống Bush cũng vậy…"


Còn "Baby in the box", cô đã nói gì, chúng ta hãy cùng nghe:

Tôi nghĩ tôi là người may mắn nhất. Tôi không biết nói gì hơn. Tôi chỉ nghĩ là tôi rất may mắn đã được **** nuôi tôi cho tôi một cuộc đời mới. Tôi biết rằng, tôi còn có cha và các anh trai của tôi và nhiều khi , tôi tự hỏi, không biết giờ này họ ra sao ?
Ông Chick Harrity nói về xuất sứ của tấm ảnh thương tâm


"Khi tôi làm việc cho Association Press, và được giao nhiệm vụ chụp hình trao trả tù binh, khi tốp người lính Mỹ cuối cùng được trao trả, năm đó là 1973, hình như tháng hai thì phải. Tôi còn nhớ ngày tôi chụp tấm hình đó là ngày tôi được lệnh đến Dinh Độc Lập để chụp buổi họp báo của tổng thống Thiệu vào buổi sáng. Người tài xế chở tôi tới Dinh Độc Lập, khi xong việc, tôi trở về thì đường phố kẹt xe quá, tôi quyết định đi bộ về văn phòng của AP nằm ngay đường Nguyễn Huệ và Lê Lợi trong một toà nhà lớn cùng với NBC…gần đó là nhà hàng, các cửa tiệm…Vì văn phòng của tôi nằm cuối cùng của toà nhà nên tôi đi vòng phiá sau cho tiện…

Tôi bắt gặp một hình ảnh vô cùng thương tâm trên đường: một em bé gái nhỏ bé đang ngủ, nằm bên trong chiếc hộp giấy bằng carton, bên cạnh chiếc hộp là đưá bé trai, lớn hơn một tí, nắm lấy tay của em gái mình thò ra, nằm co quắp, và chiếc tô dùng để ăn xin bên cạnh…

Và trước khi tới cái góc nhà, đối diện vối toà nhà, là khách sạn Continental, có rất nhiều trẻ con xin ăn, có quá nhiều trẻ em mồ côi…

Tôi bắt gặp một hình ảnh vô cùng thương tâm trên đường: một em bé gái nhỏ bé đang ngủ, nằm bên trong chiếc hộp giấy bằng carton, bên cạnh chiếc hộp là đưá bé trai, lớn hơn một tí, nắm lấy tay của em gái mình thò ra, nằm co quắp, và chiếc tô dùng để ăn xin bên cạnh … Ánh sáng hoàng hôn hắt xuống thật tuyệt vời ..

Tôi vô cùng xúc động và lấy ngay chiếc máy ảnh Leica của mình với ống kính 50 li, chụp chừng 6 hay 8 tấm gì đó, rồi vào văn phòng ngay vì tôi rất vội phải đi công tác ở Đà Nẵng. Tôi giao cho họ và nói đây là phim chụp họp báo và đây là cuốn phim chụp trẻ em xin ăn đường phố… 10 ngay sau, khi tôi từ Đà Nẵng trở về, một tấm biển có gắn hàng chữ đuà nghịch “No More Orphan Pictures”.

Bởi vì tấm hình đó khi AP phổ biến thì trở thành “tin nóng hổi”- Breaking News Story cho các báo chí và các đài phát thanh ở Mỹ, đặc biệt là ở New York…"


10. Tự thiêu

Năm 1963, phong trào đấu tranh của Tăng Ni Phật tử chống chính sách phân biệt đối xử tôn giáo hầu như đã lên đến cao trào. Vào mùa Phật Đản năm ấy, ông Diệm lại có chỉ thị cấm treo cờ Phật giáo. Sự đàn áp và bắt bớ Tăng Ni Phật tử diễn ra liên tục từ Huế vào đến Sài Gòn càng làm cho làn sóng biểu tình phản đối dấy lên mạnh mẽ hơn bao giờ. Ngày 11-6, từ tổ đình Phật Bửu Tự (đường Cao Thắng - Sài Gòn), hơn 300 Tăng Ni Phật tử đã biểu tình đi dài đến ngã tư Phan Đình Phùng - Lê Văn Duyệt (nay là Nguyễn Đình Chiểu - Cách Mạng Tháng 8). Tại đây Bồ tát Thích Quảng Đức (TQĐ) đã tự thiêu. Sau khi làm lễ 4 hướng Đông Tây Nam Bắc, Ngài ngồi kiết già, tay bắt ấn Cam Lộ, quay mặt về hướng Tây. Ngài tự đổ xăng lên khắp người và mồi lửa được bật lên…. Các Tăng Ni phong tỏa các ngả đường, cả xe cứu hỏa cũng không vào được. Ngọn lửa cứ bốc cao dần…. một vài người, trong đó có cả phóng viên nước ngoài, Peter Brown (người Mỹ) phóng viên hãng thông tấn UPI chụp được và đưa ra ngay trong năm 63 sau đó đã đoạt giải nhất ảnh báo chí thế giới.

Và đây là bức ảnh của tác giả Nguyễn Văn Thông (Việt Nam)



11. Những bức hình gây chiến tranh

Ramallah, 12/10/2000

Trong cuộc chiến tranh Trung Đông chưa bao giờ ngơi tiếng súng, Ramallah - ngọn núi của Thượng Đế - ở miền Tây Jordan là căn cứ quan trọng của Palestine, nơi nhiều cơ quan đầu não của chính phủ Arafat tọa lạc từ khi hiệp ước Oslo chia cho họ phần đất này năm 1994. Ngày 22/10/2000 là một ngày bất hạnh, không những chỉ đối với hai lính Israel đi lạc vào Ramallah và bị đưa đến đồn cảnh sát địa phương. Ơ đây, đám đông phẫn nộ đã hành quyết tập thể và vứt xác họ qua cửa sổ.

Ngày hôm sau, những bức hình chụp cảnh ấy được đưa lên trang nhất của tờ báo Anh "Daily Mail“ dưới tiêu đề "Giây phút phát hỏa cuộc chiến“, và cuộc chiến theo đúng nghĩa đen của nó được mở rộng đến tận Ramallah: Ariel Sharon cậy vào sự ủng hộ của những bức hình kia để tấn công và chiếm lĩnh Ramallah, cho đến ngày ấy tạm được quy định là khu phi quân sự, và 29/3/2002 ngôi nhà của Yasser Arafat bị cô lập hoàn toàn trong vòng vây của Israel.

Iraq, 11/9/2001
Không có gì mới trong vai trò của hình ảnh trong chiến tranh. Những bức hình được dùng làm bằng chứng cho sự kiện của vũ lực trong ngày và cho đời sau. Không hẳn mang dụng ý, nhưng vô hình trung chuyển tải dụng ý của những ngơời gây ra vũ lực được ghi lại trong ảnh. Tác động của những hình ảnh trên báo chí được đưa lên đỉnh điểm khi ống kính ghi lại cảnh tòa tháp đôi WTC bị máy bay đâm vào hay cảnh công dân Mỹ Nicolas Berg bị chặt đầu. Chiến tranh Iraq đã có một lời giải thích, và có thêm một lý do để tiếp tục tồn tại.


13. Hiroshima (Nhật Bản)

Bức ảnh này do nhà nhiếp ảnh George Silk chụp thành phố Hiroshima (Nhật Bản) 3 tuần sau khi nó bị san bằng bởi quả bom nguyên tử của Mỹ năm 1945, một tội ác mà nhân loại không thể nào quên!

14. Người đàn ông Irắc an ủi con trong trại giam giữ tù binh ở An Najaf, Irắc, 31/3

Tác phẩm "Người đàn ông Irắc an ủi con trong trại giam giữ tù binh ở An Najaf, Irắc, 31/3" của Jean-Marc Bouju, người Pháp, đang cầm máy cho hãng Associated Press, đã đoạt giải "Bức ảnh đẹp nhất trong năm" năm 2004 của tổ chức Ảnh Báo chí Thế giới.

15. BÍ ẨN DARFUR/Marcus Bleasdale

Nhà nhiếp ảnh người Anh Marcus Bleasdale nhớ lại khoảnh khắc mà ông chụp được bức hình một em bé tị nạn ở Dafur, miền Nam Sudan năm 2004. Nó đã trở thành bức hình nổi bật nhất trong năm của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (Unicef). Điểm nhấn của bức hình chỉ là một giọt nước mắt đọng lại trên gương mặt của một em bé - cuộc xung đột ở Dafur thật dữ dội.

Tôi chụp bức hình vào giữa năm 2004 ở Darfur, tại một ngôi làng nhỏ có tên Dissa khi chúng tôi đang đi xem qua sa mạc. Khoảng 200-300 người ngồi dưới tán cây khổng lồ, toàn phụ nữ và trẻ em, không hề có nam giới, ngoại trừ một người có thể là già làng khoảng 80, 90 tuổi. Một cơ thể buồn bã, đôi vai trùng xuống rất ủ dột của một em bé khoảng 5, 6 tuổi trong vòng tay khô của người mẹ quàng qua vai em. Bàn tay của em non nớt có vẻ an tâm trong lòng mẹ. Bà mẹ không xuất hiện trong tấm hình. Bà ở đằng sau, làm nền, nhưng dần dần xa xa mờ mờ, người ta nhìn thấy những bàn tay của anh chị đứa bé đợi chờ”.
16. THẢM KỊCH Ở OKLAHOMA/Charles Porter

Nhiếp ảnh nghiệp dư Charles Porter miêu tả anh đã chộp được khoảnh khắc toà nhà ở thành phố Oklahoma (Mỹ) bị đánh bom tháng ngày 19/4/1995. Bức hình đoạt giải báo chí Pulitzer uy tín.

“Một cảnh sát bế một em bé sơ sinh trao cho lính cứu hỏa. Tôi vẫn còn hình dung ra phút kinh hoàng đó. Người lính cứu hỏa đã tháo găng ra trước khi nhận đứa bé vì sợ nó đau. Găng tay rất cứng, thô nhám, và khi bỏ ra, người lính muốn nói rằng họ sẽ thật êm ái với sinh linh nhỏ bé kia. Anh không biết rằng đứa bé đã không còn sống nữa. Khi tôi gọi bạn cho xem bức ảnh, anh ta nói cần cho nhiều người biết hơn, như bán cho hãng AP chẳng hạn. Tôi đến AP và hỏi họ xem họ có muốn xem bức hình không. Wendel Hudson, trưởng đại diện của AP ở Oklahoma ngay lập tức muốn mua. Tôi không biết nói gì, vì tôi không thể hình dung được bức hình đã có quyền lực như vậy, Điều này vượt khỏi sự hiểu biết và tưởng tượng của tôi.”

17. Lính Anh tra tấn người Iraq


22 bức ảnh, được trình tại toà án binh Anh trong vụ xử 3 binh lính tội tra tấn dân thường Iraq, đã gây ra phản ứng phẫn nộ tại xứ sở sương mù.

Thủ tướng Tony Blair bình luận trước Hạ viện hôm qua rằng không thể để việc này làm “tổn hại đến tên tuổi tốt đẹp của quân đội chúng ta”. Theo ông, “đại đa số" các binh lính phục vụ ở Iraq đều thể hiện “lòng can đảm và danh dự lớn lao”.

Vụ xử đang diễn ra tại một một căn cứ quân sự của Anh tại Đức. Các bức ảnh được báo chí nước này công bố hôm qua dưới những tít lớn như “Hổ thẹn”, “Cú sốc” và đặt biệt danh là vụ bê bối “Abu Ghraib của nước Anh". Ảnh chụp hồi tháng 5/2003, bao gồm những cảnh như một người Iraq bị trói và treo trên một chiếc xe tải cần cẩu, một người bị đá, 2 người Iraq bị lột quần áo và ép phải giả các động tác tình dục.

Bên luật sư biện hộ cho biết các binh lính chỉ làm theo lệnh là phải cứng rắn với những người đi cướp đồ cứu trợ và không được chuẩn bị tốt để đối phó với loại tội phạm thông thường.

Ông Blair khẳng định rằng hoàn cảnh dẫn tới những hành vi sai phạm sẽ được điều tra đầy đủ: “Sự khác biệt giữa nền dân chủ và thể chế bạo ngược không phải là ở chỗ trong nền dân chủ, những việc xấu không xảy ra. Nó nằm ở chỗ, khi những việc như vậy xảy ra, kẻ phạm tội phải chịu trách nhiệm”.

Lãnh đạo đảng Bảo thủ Michael Howard tuyên bố, những bức ảnh khiến “đất nước cảm thấy xấu hổ”. Phó chủ tịch Dân chủ Tự do Menzies Campbell bình luận lực lượng Anh giờ đây sẽ đối mặt với nhiều khó khăn, trong "thời kỳ nhạy cảm trước cuộc bầu cử ngày 30/1”. Còn theo Ngoại trưởng Jack Straw, những bức ảnh “đáng ghê tởm” và sẽ làm tổn hại đến hình ảnh của Anh ở nước ngoài.

Hôm thứ ba, người đứng đầu Lục quân Anh - tướng Mike Jackson – lên án các hành vi tra tấn nhưng từ chối bình luận về các hình ảnh.

18. Những sự thực khủng khiếp:

Bức ảnh này của phóng viên George Strock chụp 3 người lính Mỹ nằm chết trên bãi biển Papua New Guinea năm 1943. Khi được công bố trên Tạp chí Life vào ngày 20/9/1943, bức ảnh đã làm rúng động dư luận nước Mỹ bởi câu hỏi : "Vì sao lại có thể đưa lên mặt báo cái chết của những đứa trẻ Mỹ ở một bờ biển xa lạ như thế này?"

19. Tuyệt thực

Vào những tháng cuối năm 2004 , chính phủ Hà Lan trong một bước nỗ lực thắt chặt thủ tục nhập cư , đã có dự luật trục xuất 26000 người tị nạn thất nghiệp.
Và bức ảnh bạn đang xem nói về 1 người Iran tị nạn ,anh Mehdy kavousi đã tự … khâu mí mắt và miệng lại và tuyệt thực để phản đối việc bị trục xuất khỏi Hà Lan trong vòng 44 ngày . Những nhà chức trách thì yêu cầu anh phải kí điền vào môt cái form …ở IRAN ( ! ) . Bộ phận kiểm soát việc nhập cảnh thì kiên quyết từ chối yêu cầu được ở lại Hà Lan của anh chàng Iran lì lợm này.
Nhưng sau 1 tháng kể từ sau việc chống đối với quyết định của chính quyền , trường hợp của Kavousi đã được xem xét lại và đã được trở thành ngoại lệ!
Bức ảnh do Paul Vreeker - phóng viên ảnh người Hà Lan làm cho Reuters chụp.

22. Bức ảnh về một cuộc tàn sát hàng loạt đối với người Kurd ở Iran

Ban giám khảo giải thưởng Pulitzer đánh giá bức ảnh này là “một bức ảnh nổi tiếng nhất và có sức tố cáo mạnh mẽ nhất đối với cuộc cách mạng ở Iran”. Bức ảnh chụp năm 1979, giới thiệu về một vụ hành quyết 11 người Kurd ngay trên đường băng sân bay sau khi Giáo chủ Ajatollah Khomenei giành được chính quyền.

Tác giả của bức ảnh đáng ra đã nhận được một khoản tiền thưởng trị giá 10.000 USD. Thế nhưng, chủ nhân của bức ảnh vẫn bặt vô âm tín, không đến nhận giải. Sau 5 năm tìm kiếm, một phóng viên của tờ Wall Street Journal đã tìm ra được dấu vết.

Jahangir Razmi,năm nay 58 tuổi, sau 27 năm liền ông không thừa nhận mình là tác giả bức ảnh đó, đã miễn cưỡng thừa nhận ông là tác giả bức ảnh có một không hai này. Ông nói: “Giá như người phóng viên đó không bao giờ tìm ra tôi, bởi bức ảnh đó không phải là một sự quảng bá tốt đẹp cho đất nước tôi và tôi e rằng, người ta sẽ nổi giận vì bức ảnh này”. Ông lấy làm ân hận vì đã chính thức thừa nhận tên tuổi mình gắn với bức ảnh được giải thưởng Pulitzer.

Năm 1980, Ban giám khảo đã tuyên bố trao giải thưởng Pulitzer cho tác giả khuyết danh của bức ảnh trên - Razmi không có mặt tại buổi lễ trao giải thưởng. Ông đã trở thành một nhiếp ảnh gia thành đạt, ông có một phòng nhiếp ảnh nhỏ và đồng thời là người chụp ảnh riêng của Tổng thống Iran Mahmud Ahmadinedschad. Ban giám khảo có ý định mời nhiếp ảnh gia này tới Trường đại học Columbia ở New York để chính thức nhận giải thưởng quý giá này.

Ông Razmi là nhân chứng vụ hành quyết tập thể tại thành phố miền Tây Iran Sanandaj, khi đó ông làm việc cho tờ báo Ettela'at. 11 người Kurd bị hành quyết với tội mang lậu vũ khí, gây mất ổn định và phạm tội giết người. Sau khi bị tử hình có một số người được coi là hoàn toàn vô tội vì họ không can dự đến chuyện chính trị mà chỉ là người bán bánh mì bình thường có mang trong người một khẩu súng ngắn phòng thân.

Khi bức ảnh của phóng viên Razmi được công bố, hầu như không mấy người biết về vụ thảm sát đẫm máu này. Chủ bút tờ báo nơi Razmi làm việc là ông Mohammed Heydari đã quyết định đăng tải bức ảnh này bất chấp nguy cơ bị trừng phạt. Hai ngày sau khi bức ảnh được công bố lần đầu tiên vào ngày 29/8/1979 thì Hãng Thông tấn UPI đã truyền bức ảnh này đi khắp thế giới và bức ảnh này đã được in trên trang nhất nhiều tờ báo có tiếng ở nhiều quốc gia. Chỉ ít lâu sau, tờ báo Ettela'at bị Chính phủ Iran quốc hữu hóa.

Nhiều phóng viên ảnh thế giới ca ngợi nhà nhiếp ảnh Razmi về việc ông đã nhận mình là tác giả bức ảnh, cho dù chậm mất hơn 27 năm. Họ coi đây là một hành động dũng cảm bởi việc thừa nhận mình là tác giả của bức ảnh nổi tiếng này có thể đe dọa đến sự an toàn tính mạng của bản thân. Nhà nhiếp ảnh tài liệu hàng đầu người Anh Tom Stoddart nhận xét: “Bức ảnh này là một trong những bức ảnh báo chí tốt nhất của mọi thời đại”.

23. Sự tàn bạo của chủ nghĩa phát xít

Margaret Bourke-White, phóng viên ảnh của LIFE đã theo chân những người lính của tướng George Patton giải phóng trại tập trung Buchenwald năm 1945. 43.000 người vô tội đã bị phát xít Đức giết hại ở đây. Tướng Pattron đã ra lệnh cho binh lính của mình buộc một số người dân Đức phải đi cùng để chứng kiến tận mắt sự tàn bạo mà chủ nghĩa phát xít Đức đã gây ra cho con người.

24. Người Mỹ ở Việt Nam


Bức ảnh của phóng viên chiến trường Larry Burrows chụp cảnh lính Mỹ ở chiến trường Nam Việt Nam năm 1966 - được đăng ngay sau đó trên tạp chí LIFE - đã củng cố thêm sự khẳng định của dư luận tiến bộ Mỹ rằng, người Mỹ lẽ ra không bao giờ nên tham chiến tại Việt Nam.

Năm 1969, mỗi tuần, có đến hàng trăm lính Mỹ chết trận tại Việt Nam. Đây là những bức ảnh đã được đăng trên LIFE ngày ghi đầy đủ tên tuổi, quê quán của những lính Mỹ chết trận được Lầu năm góc thông báo trong Tuần lễ tưởng niệm tổ chức từ ngày 28/5 đến 3/6/1969. Đây là cơn ác mộng đối với nước Mỹ trong những ngày hè năm 1969.

25. Vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki


Đây là đám mây hình nấm do quả bom nguyên tử ném xuống Nagasaki, Nhật Bản vào năm 1945, cao đến 18 km.

Hơn nửa thế kỷ qua, hình ảnh này vẫn là một trong những ký ức hãi hùng về chiến tranh và sự tàn bạo của con người. Theo ước tính, 140.000 người dân Hiroshima đã chết bởi vụ nổ cũng như bởi hậu quả của nó. Số người thiệt mạng ở Nagasaki là 74.000. Ở cả hai thành phố, phần lớn người chết là thường dân.
Vai trò của hai vụ nổ đối với việc nước Nhật đầu hàng, cũng như hậu quả và lý lẽ biện hộ cho việc thả bom vẫn là chủ đề còn bàn cãi. Ở Mỹ, quan điểm đa số cho rằng hai quả bom đã chấm dứt chiến tranh sớm hơn nhiều tháng và hạn chế thiệt hại sinh mạng các bên tham chiến. Với nước Nhật, dư luận cho rằng chúng là không cần thiết và hành vi chống lại dân thường là vô đạo đức.
Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Đế quốc Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện Khối Đồng minh và ký vào văn kiện đầu hàng ngày 2 tháng 9 năm 1945, chính thức chấm dứt Thế chiến thứ hai.

HIROSHIMA:
Lúc 8 giờ 15 (giờ Hiroshima), chiếc Enola Gay thả quả bom nguyên tử "Little Boy" trên bầu trời trung tâm Hiroshima. Quả bom nổ cách mặt đất khoảng 600 m với đương lượng nổ 13 kiloton (vũ khí nguyên tử sử dụng U-235 bị coi là không có hiệu năng cao, chỉ có 1,38% khối lượng của chúng phân hạch), ngay lập tức giết chết ít nhất 90.000 người. Trong số này, có khoảng 2 ngàn người Mỹ gốc Nhật và từ 800 đến 1.000 người Mỹ khác mang hậu quả của vụ nổ. Họ là những công dân Mỹ đang theo học ở Nhật và không thể rời khỏi Nhật Bản khi chiến tranh nổ ra. Có thể có cả hàng trăm tù binh phe Đồng Minh chết trong lần này. Bán kính bị tàn phá là 1,6 km và cháy trên diện tích 4,4 km vuông. Ước tính 90% nhà cửa ở Hiroshima bị hủy diệt hoặc hư hại.

Hiroshima trước khi bị ném bom


Hiroshima sau khi bị ném bom


NAGASAKI:
Lúc 11 giờ 01, vào phút cuối cùng, mây đứt quãng trên bầu trời Nagasaki cho phép sĩ quan thả bom trên chiếc Bock's Car, Kermit Beahan, nhìn thấy sân vận động thành phố bằng mắt qua lớp mây mỏng. Quả bom "Fat Man", mang lõi khoảng 6,4 kg Plutonium 239 được thả xuống thung lũng công nghiệp của thành phố. 43 giây sau, nó nổ ở 469 mét cách mặt đất, ở giữa xưởng thép và vũ khí của Misubishi ở xưởng thủy lôi của Misubishi-Urakami. Vụ nổ có đương lượng 21 kiloton, nhiệt độ cao nhất đạt được là 3.871°C (7.000° Fahrenheit) và sức gió khoảng 1.000 km/giờ (624 mph).
Lúc bom nổ, có khoảng 200 ngàn người trong thành phố. Quả bom thả vội vàng đã nổ ở đoạn giữa hai mục tiêu chính, xưởng thép và vũ khí ở phía bắc và xưởng thủy lôi ở phía nam. Nếu bom rơi chếch về phía nam, vùng thương mại và dân cư của thành phố có thể bị thiệt hại nặng nề hơn nhiều. Đây là yếu tố chủ yếu lý giải vì sao quả bom này với đương lượng nổ lớn hơn quả "Little Boy" ở Hiroshima nhưng gây thiệt hại ít trầm trọng hơn.
Theo một số nguồn ước tính, 70.000 người trên tổng số 240.000 dân cư Nagasaki chết ngay và 60.000 người khác bị thương. Bán kính vụ nổ là 1,6 km, những đám cháy trải dài từ phần bắc của thành phố cho đến 3,2 km cách vụ nổ về phía nam. Một số lượng không tính toán được những người sống sót từ vụ nổ ở Hiroshima sơ tán đến Nagasaki và lại bị đánh bom ở đây.

Nagasaki trước và sau khi bị ném bom:



Mái vòm Bom Nguyên tử tại Khu Tưởng niệm Hòa bình Hiroshima, một tàn tích của thành phố gần như bị san phẳng bởi vụ ném bom nguyên tử xuống đây


26. Vụ thảm sát Nam Kinh

Tháng 7/1937, cuộc đụng độ giữa binh lính Nhật Bản và Trung Quốc leo thang thành một cuộc chiến tranh tổng lực. Nhật Bản và Trung Quốc ở trong thế giằng co. Người Nhật tiến vào Thượng Hải và nhanh chóng tới Nam Kinh (thủ phủ tỉnh Giang Tô, miền đông Trung Quốc).
Ngày 13/12/1937, quân Nhật chiếm đóng thành phố mà không gặp khó khăn nào. Cảm thấy bị sỉ nhục vì không chiếm được Trung Quốc trong vòng 3 tháng như đã hứa với Nhật hoàng, quân đội Nhật tiến hành chiến dịch giết người, hãm hiếp và cướp phá để trả thù cho tới tháng 3/1938.
Theo ước tính của các sử gia và những tổ chức nhân đạo ở Nam Kinh vào thời đó, 250.000-350.000 người đã bị giết, trong đó có nhiều phụ nữ, trẻ em. Theo những người nước ngoài có mặt tại đây trong thời gian này, 20.000 phụ nữ đã bị cưỡng hiếp. Người Trung Quốc bị đưa đi hành quyết bên bờ sông Trường Giang. Những đống thi thể người bị thiêu la liệt tại đây. Những bức ảnh chụp lại thời đó cho thấy binh lính Nhật đứng cười ngay bên cạnh đống xác nạn nhân.
Ở trong và ngoài thành phố, các thi thể phụ nữ nằm khắp nơi. Chẳng hạn, trong một ngôi nhà gần cổng ZinZhong, một phụ nữ ở độ tuổi 60 nằm đó, thi thể sưng húp lên; trên phố YangPi, một em gái đã chết, bụng bị mổ và ruột bị moi ra ngoài, hai mắt em mở trừng trừng, miệng vẫn còn dính máu. Trên phố GuYiDian, một em gái trạc 12 tuổi nằm đó, quần áo lót của em bị xé rách, mắt em nhắm, miệng mở. Thực tế này cho thấy những phụ nữ này không chỉ chết dưới bàn tay giết người của binh lính Nhật, mà họ còn bị đe doạ trước khi chết.
Bên ngoài cổng HongWu, binh lính Nhật hãm hiếp một phụ nữ đang mang thai rồi cắt bụng nạn nhân, lấy thai nhi ra ngoài. Trong một vụ khác, binh lính Nhật muốn cưỡng hiếp một phụ nữ đang bụng mang dạ chửa, mẹ chồng cô tìm mọi cách ngăn lại. Lập tức, bà bị đá, còn người con dâu bị đâm. Lính Nhật còn dùng dao lấy bào thai ra ngoài.
Phóng viên Tillman Durdin của tờ New York Times đưa tin về thời kỳ đầu cuộc thảm sát viết: "Tôi 29 tuổi và đó là câu chuyện lớn đầu tiên của tôi cho tờ New York Times. Vì vậy, tôi lái xe xuống sát mặt nước. Tôi phải vượt qua những đống xác người chất ở đó. Ôtô phải đi qua những xác chết đó. Ở sát bờ sông, tôi thấy một đám sĩ quan Nhật hút thuốc, nói chuyện giám sát việc thảm sát một tiểu đoàn lính Trung Quốc bị bắt. Lính Nhật đi thành nhóm khoảng 15 người, được trang bị súng máy. 200 người bị hành quyết trong vòng 10 phút trong sự cổ vũ, tán dương của các khán giả quân đội Nhật". Durdin kết luận vụ thảm sát Nam Kinh là "một trong những tội ác dã man nhất thời hiện đại".
Nhà truyền giáo Thiên chúa giáo John Magee mô tả binh lính Nhật giết không chỉ tất cả các tù nhân mà họ tìm thấy mà cả một số lượng lớn các công dân bình thường ở mọi lứa tuổi. Nhiều người trong số này bị bắn hạ giống như những con thỏ bị săn ngay giữa đường phố. Sau một tuần lính Nhật tiến hành "giết, hiếp", Magee cùng các nhà truyền giáo phương tây khác thiết lập một khu an toàn quốc tế.
Nhật ký của Minnie Vautrin, người phụ nữ Mỹ muốn giúp trong vụ thảm sát Nam Kinh, đề ngày 16/12 có đoạn: "Hôm nay, có lẽ không có tội ác nào xảy ra ở thành phố này. 30 em gái bị đưa khỏi trường ngôn ngữ (nơi tôi làm việc) đêm qua, và hôm nay tôi nghe thấy nhiều câu chuyện đau lòng của những em gái bị đưa ra khỏi nhà đêm qua - một trong những em đó mới 12 tuổi…".
Sau này, bà viết: "Có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ biết mấy nghìn người đã bị tàn sát. Vì trong nhiều trường hợp, xác họ bị tẩm dầu rồi thiêu. Các thi thể cháy xém sẽ kể lại một vài bi kịch. Các sự kiện trong những ngày tiếp sau đó càng ngày càng mập mờ. Tuy nhiên, chắc chắn là có những câu chuyện để đời sẽ không xoá mờ khỏi tâm trí tôi cùng những người ở Nam Kinh trong thời kỳ này".
Minnie Vautrin bị suy nhược thần kinh năm 1940 và trở lại Mỹ. Bà tự sát năm 1941.
John Rabe, thủ lĩnh đảng Quốc xã tại Nam Kinh, cũng hoảng sợ trước tội ác của lính Nhật. Ông phụ trách khu vực an toàn quốc tế và đã kể lại những gì đã chứng kiến, ghi lại trên phim. Tuy nhiên, tất cả những điều này bị Đức Quốc xã cấm khi ông trở về Đức.
Sau khi Thế chiến II kết thúc, một trong những binh lính ở Nam Kinh đã kể lại những gì đã thấy tận mắt. Azuma Shiro thừa nhận: "Có khoảng 37 ông già, bà già và trẻ em. Chúng tôi bắt họ và tập trung họ tại quảng trường. Một phụ nữ ôm hai con ở hai cánh tay. Chúng tôi đâm và giết họ, cả ba - giống như những củ khoai tây trên xiên nướng. Khi đó tôi nghĩ, tôi mới xa quê được một tháng… và 30 ngày sau, tôi giết người mà chẳng thấy động lòng".
Shiro phải hứng chịu hậu quả vì những lời thú nhận: "Khi một triển lãm về chiến tranh mở ra ở Kyoto, tôi tới đó thú nhận. Người đầu tiên chỉ trích tôi là một phụ nữ ở Tokyo. Cô ấy nói tôi đã gây tổn hại đến những người quá cố. Cô ấy liên tục gọi điện cho tôi trong 3-4 ngày liền. Ngày một nhiều thư được gửi đến cho tôi. Tình hình nghiêm trọng tới mức cảnh sát phải bảo vệ tôi".
Tuy nhiên, lời thú nhận đó đã bị nhà chức trách cấp cao ở Nhật Bản coi thường. Cựu bộ trưởng Tư pháp Shigeto Nagano khẳng định không có chuyện thảm sát từng xảy ra và đó là sự thêu dệt của Trung Quốc. Bản thân người Nhật cũng có ý kiến trái ngược về vấn đề này. Bộ phim Đừng khóc Nam Kinh do Trung Quốc và Hong Kong sản xuất năm 1995 phải mất vài năm sau mới được trình chiếu tại Nhật Bản.
Nhiều quan chức và sử gia Nhật Bản thừa nhận giết người, cưỡng hiếp đã xảy ra, nhưng ở mức độ thấp hơn nhiều so với các bản tin cũng như bài phân tích. Giới chức và giới học giả nước này còn lập luận, dù thế nào chăng nữa thì những chuyện đó xảy ra trong thời kỳ chiến tranh
Một số hình ảnh:












27. Thảm sát Mỹ Lai
Thảm sát Sơn Mỹ hay thảm sát Mỹ Lai là một tội ác chiến tranh của quân đội Mỹ đã xảy ra trong Chiến tranh Việt Nam tại làng Sơn Mỹ thuộc huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.


Ngày 16 tháng 3 năm 1968 một nhóm quân nhân Mỹ (đại đội Charlie thuộc lữ đoàn bộ binh 11) dưới sự chỉ huy của người thiếu úy 24 tuổi William Calley nhận nhiệm vụ chiếm đóng làng Sơn Mỹ và tìm du kích Việt Cộng.
Các binh lính đã hãm hiếp phụ nữ và bắn chết gần như tất cả dân cư của làng: 503 thường dân, trong đó là 182 phụ nữ, 172 trẻ em, 89 đàn ông dưới 60 tuổi và 60 người già. Gần như không một quân nhân nào chống lại mệnh lệnh giết người. Chỉ có phi công trực thăng Hugh Thompson, bằng cách đe dọa sẽ bắn họ bằng súng máy của chiếc trực thăng, đã bắt buộc các quân nhân tha cho 11 người phụ nữ và trẻ em, những người được ông di tản đi. Đội lái máy bay trực thăng đã được tặng thưởng Huy chương Quân nhân (Soldier’s Medal) 30 năm sau đó cho hành động can thiệp này.
Ngay sau vụ việc các sĩ quan chỉ huy đã tìm cách che đậy thảm sát này. Theo trình bày chính thức, tròn 20 thường dân đã chết không do cố ý trong lúc chiến đấu chống lại Việt Cộng. Chỉ đến ngày 5 tháng 12 năm 1969 mới xuất hiện một bài báo tường trình đầy đủ về vụ thảm sát trên tạp chí Life. Kế tiếp theo đó tạp chí Newsweek và Time cũng tường thuật về vụ việc này. Cả thế giới đã bị sốc. Chỉ có 4 quân nhân bị đưa ra tòa án quân sự. Người sĩ quan chỉ huy Calley bị tòa tuyên xử lao động bắt buộc chung thân nhưng được tổng thống Mỹ Richard Nixon ân xá thành 3 năm quản thúc tại gia.
Nhà báo Seymour Hersh, người phát hiện ra tình huống bi kịch này đã nhận giải thưởng Pulitzer về tường thuật quốc tế năm 1970. Tường thuật của ông được minh họa bằng hình của nhà nhiếp ảnh Ron Haeberle. Người nhiếp ảnh này đã tham dự vào chiến dịch dưới tư cách là phóng viên quân đội chính thức nhằm cung cấp chứng cứ cho cái được gọi là "đếm xác" (body count) của thống kê quân sự. Các xác chết được chụp đã được các sĩ quan nhận dạng là những người Việt Cộng đã hy sinh. Thế nhưng người ta không gặp một người Việt Cộng nào trong làng và cũng không gặp kháng cự nào. Mặc dầu vậy quân đội Mỹ rất hài lòng với cuộc hành quân, không có quân nhân Mỹ nào chết hay bị thương và 128 người chết của phía bên kia. Phải mất 1 năm Hersh mới tìm được một nhà xuất bản sẵn sàng công bố câu chuyện và hình ảnh của ông.
Việc xuất bản này đã đánh dấu một bước ngoặt trong cảm nghĩ của công chúng về Chiến tranh Việt Nam, cả ở Mỹ lẫn trong toàn bộ thế giới phương tây và đã góp phần quyết định vào việc tổng động viên của phong trào chống chiến tranh.

28. Ất Dậu 1945: năm khủng khiếp!

Nạn đói năm Ất Dậu là một nạn đói xảy ra tại miền Bắc Việt Nam trong khoảng từ tháng 10 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945 làm khoảng từ 400.000 đến 2 triệu người dân chết đói.
Không có số liệu chính xác về số người đã chết đói, nhưng một số nguồn khác nhau ước tính là từ khoảng 400.000 đến 2 triệu người đã bị chết đói tại miền bắc Việt Nam trong thời điểm này. Tháng 5 năm 1945, bảy tháng sau khi trận đói bùng nổ tại miền bắc, toà khâm sai tại Hà Nội ra lệnh cho các tỉnh miền Bắc phúc trình về tổn thất. Có 20 tỉnh báo cáo số người chết vì đói ở miền bắc là hơn 380.000, chết vì bệnh – không rõ nguyên nhân – là hơn 20.000, tổng cộng 400.000 cho riêng miền bắc. Tháng 10 năm 1945, theo báo cáo của một quan chức quân sự của Pháp tại Đông Dương khi đó là tướng Mordant thì khoảng nửa triệu người chết. Toàn quyền Pháp Jean Decoux thì viết trong hồi ký của ông về thời kỳ cầm quyền tại Đông Dương "À la barre de l’Indochine" – là có 1 triệu người miền Bắc chết đói. Các nhà sử học Việt Nam ước đoán là từ 1 đến 2 triệu. Nhiều nhà sử học sau này nêu con số 1 triệu trong khi những người sinh sống tại miền Bắc khi đó thì thiên về con số 2 triệu, là điều Hồ Chí Minh có nhắc đến trong bài Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945.

Bức ảnh Hai em bé ở Thái Bình được coi là biểu tượng của nạn đói năm 1945:


Những người chết đói ở trại Giáp Bát được cải táng về nghĩa trang Hợp Thiện (Hà Nội) - Ảnh: Võ An Ninh


Vợ chết rồi, chồng nhìn con, chờ đến lượt mình rồi con mình ngã xuống - Ảnh: Võ An Ninh

Người chết đói bên đường



và một số hình ảnh khác:





Hành trình của những “hồn ma”
Đoạn trường đày ải

Nghe chúng tôi nhắc tới hình ảnh những người đói kéo nhau lên Hà Nội, bà Chén (xã Tây Lương, Tiền Hải, Thái Bình) cố ngước đôi mắt mù lòa, lẩy bẩy đôi chân còm nhưng đã phù đỏ để đi ra ngõ. Bà nhớ từ cái ngõ này, 60 năm trước bà đã ôm con hòa cùng đoàn người lê theo sự dẫn dắt của cái đói.

Đi đâu, về đâu thì không ai biết nhưng cứ từng đoàn từng đoàn rách rưới, giơ xương, trũng mắt như quỉ đói âm thầm, dắt díu nhau đi. Họ không phân biệt được nam nữ, già trẻ. Chỉ có thể thấy những thân hình dài ngắn không đều mà đoán trẻ con hay người lớn mà thôi. Họ đi chậm. Không ồn ào, không cười nói. Thỉnh thoảng có người đổ gục xuống đường không giãy giụa. Nhiều thây người bất động, mắt mở trừng trừng không biết sống hay chết.

Tại các cổng chợ, ngã ba, đầu cầu, gốc cây họ nằm ngồi la liệt chìa tay ăn xin hay bới tìm lục lọi. Ngay đầu chợ, một người đàn bà có vẻ giàu có đi ngang qua, không hiểu bà ta kinh tởm hay ốm đau thế nào mà ôm bụng gập người nôn thốc nôn tháo. Hai ba đứa trẻ vội lao vào tranh nhau bốc bãi nôn, hối hả nhét vào mồm…

Bà Chén cũng gặp nhiều người ôm con nhỏ như mình. Những đứa trẻ còn sức thì khóc, không còn thì lả gục trên vai mẹ. Một người đàn bà xin được chút gì đó để ăn, bà ta kéo đầu con để chia cho nó. Gọi hồi lâu người mẹ ấy mới biết con mình đã chết tự khi nào. Trong góc chợ lại có một người đàn bà nhe răng, trợn mắt nằm co quắp chết bên hai đứa trẻ.

Thằng bé chắc chừng một tuổi không biết gì cứ hì hục nhay vú mẹ cho đến tận lúc tối trời. Bà Chén đi hai ngày một đêm như thế thì đến thị xã Thái Bình… Một số chết, một số ở lại, còn bà Chén và những đoàn người đói rách vô hồn đó cứ như thế tiếp tục đi lên Hà Nội…

Trong Viện Sử học VN có lưu một bức thư của một tác giả nước ngoài là Vespy viết tháng 4-1945 tả về thảm cảnh của những cuộc hành trình này: “Họ đi thành rặng dài bất tuyệt, người nào người ấy rúm người dưới sự nghèo khổ, toàn thân lõa lồ, gầy guộc giơ xương, ngay cả những thiếu nữ đến tuổi dậy thì đáng lẽ hết sức e thẹn cũng thế.

Thỉnh thoảng họ dừng lại vuốt mắt cho một người trong bọn đã ngã và không bao giờ dậy được nữa, hay để lột một miếng giẻ rách không biết gọi là gì cho đúng để che thân người đó. Nhìn những hình người xấu hơn con vật xấu nhất, nhìn thấy những xác chết nằm co quắp cạnh đường chỉ có vài nhành rơm vừa làm quần áo vừa làm vải liệm, người ta thật lấy làm xấu hổ cho cái kiếp con người”.

Nhân tính tiêu tan… vì đói

Lục tìm trong tâm khảm sâu thẳm, đau đớn nhưng chắc hẳn còn sáng rõ của mình, bà Chén nói: “Ánh mắt người đói lúc đó không có màu, không có thần. Nhiều lúc họ xử với nhau như thú đói, không nhân tính…”. Bà Chén lúc ấy bế một đứa con nhỏ trên tay. Dành dụm suốt từ đầu vụ đói, bà còn được mấy hào trong túi để dành cho chuyến đi này.

Chợ Bo (thị xã Thái Bình) lúc đó là một bãi đất được căng lên những mảnh nilông, đay hay lá khô trên những chiếc cọc tre xiêu vẹo. Cả một biển người nằm ngồi lê la bới rác, xin ăn chập chờn như những bóng ma. Vài người ngồi xổm ánh mắt láo liên đầy cảnh giác bên những cái thúng úp mẹt và thường là có thêm một, hai người đàn ông to khỏe dựng đòn gánh đứng bên.

Đó là những người bán hàng. Khoai, ngô, hay bánh cám, bánh đúc… trộn đầy trấu hoặc mùn cưa… Ai mua hàng phải chìa tiền. Đứng tới nửa ngày bà Chén mới cảm thấy có thể an toàn để lại gần người bán bánh hỏi mua. Thế nhưng đang định xé bánh cho con thì cả đám người đang nằm như thây ma vùng dậy vồ lấy mẹ con bà, tranh nhau chiếc bánh.

Những ngày sau, trên dặm hành trình địa ngục ấy, tất cả số tiền bà có đủ để mua ba chiếc bánh thì bà đều bị cướp hết. Cuối cùng bà cũng chỉ còn cách chờ nhặt rác rưởi, cọng rau, xin ăn và tham gia cướp của kẻ khác như họ đã cướp của bà để ăn. Bà không nhớ mình đi mấy ngày, mấy tuần hay mấy tháng thì tới Hà Nội.

Con trai bà Chén năm nay cũng đã ngoài 60 tuổi. Anh nói: “Những câu chuyện cướp bóc, thú tính trong nạn đói, 60 năm qua mẹ tôi không bao giờ muốn nhắc lại. Chỉ có một lần bà kể cho tôi nghe một câu chuyện kinh hoàng: khi bế con đi Hà Nội, qua sông Long Hầu bà thấy có hai bố con nhà nọ đói lả, phù thũng, chắc là sắp đến lúc chết. Người con chừng 7-10 tuổi.

Không hiểu lúc ấy họ kiếm được thứ gì, chắc là có thể ăn được nên hai người tranh nhau rất dữ. Đứa con co cả người nắm chặt tay bố. Hồi lâu đẩy con ra không được, người cha liền co chân đạp con xuống cầu. Đứa trẻ cố níu lấy thành cầu, hai mắt không rời miếng ăn trên tay bố. Người cha lúc ấy kiên quyết hơn và ông ta đã đạp được đứa con rơi xuống nước rồi ngấu nghiến nhét thứ đó vào mồm…”.

Theo điều tra của Viện Sử học tại xã Quảng Đại, Quảng Xương, Thanh Hóa: ông Viên Đình Hữu đói quá quẳng con trai 4 tuổi xuống sông Đơ. Ông Hoàng Bảo ở xóm Cháy (Đông Hưng, Thái Bình) thấy bố của ông Bắc (cùng xóm) thổi nồi cơm. Ông Bắc bóp cổ bố đến chết để ăn một mình…

Suốt chặng đường khổ ải từ quê nhà lên Hà Nội, bà Chén còn gặp rất nhiều cảnh mẹ bỏ rơi con, chồng chạy trốn vợ, rồi cướp bóc, giết chóc lẫn nhau vì miếng ăn một cách đau thương và rùng rợn như vậy. Nhưng Hà Nội lúc này cũng là địa ngục…

Hà Nội - điểm hẹn sinh tồn

Ông Nguyễn Ngọc Liên, 82 tuổi, hiện trú tại phòng 105, nhà C6, khu tập thể Kim Liên, Hà Nội kể: “Ngày đó nhà tôi ở 233 phố Huế. Bắt đầu từ mùa đông năm 1944, tôi đã thấy những đoàn hình nhân vô cùng thảm hại ùn ùn dắt nhau qua các phố.

Áo quần họ là miếng giẻ buộc túm dính vào những bộ xương lắc lư. Những cái đầu trơ sọ, đính hai con mắt vàng trũng thất thần. Ban đầu người hàng phố cho họ ăn những thứ có thể, nhưng càng ngày họ đến càng đông, hết lớp này đến lớp khác. Họ nằm, bò, lê và chết gục khắp đường, ngõ, vỉa hè…

Ai còn sống thì cứ lang thang xin ăn, không ít trường hợp cướp giật, móc mồm người khác giành ăn. Của bố thí không thể đủ cho đoàn người đói khát. Họ chết ngày một nhiều. Một buổi sáng tôi vừa mở cửa thì hai xác chết lạnh cứng đổ ập vào tôi. Đến tận bây giờ tôi vẫn không quên được cảm giác hãi hùng và xót thương lúc đó”.

Ông Đặng Văn Cự - 87 tuổi, hiện ở phường Giáp Bát, Hai Bà Trưng (Hà Nội) - nói: “Ban đầu cũng chia sẻ với bà con nhưng chúng tôi cũng đói, lương thực cạn kiệt và trước cảnh tàn ác của Pháp - Nhật thì cũng không dám chắc mai này mình có thoát cảnh ma đói hay không.

Trong thành phố, nhiều thanh niên, nhà hảo tâm thành lập đoàn khất thực có trung tâm ở phố Hàng Da, quyên góp cơm cháo chia cho bà con. Nhưng vì số lượng quá lớn, tổ chức chỉ là tình cảm của một số người có điều kiện nên đoàn khất thực tồn tại không được bao lâu.

Chúng tôi cũng bị cướp giật bánh trái, ngô khoai, nhưng không ai nỡ đánh đập người đói mà chỉ tránh né. Người làng tôi bán bánh thì làm bằng đất bày ở quầy, mẹt, thúng. Ai mua thì mới đến chỗ khác lấy bánh thật ra. Ai cướp thì chỉ cướp được bánh đất mà thôi”.

Cảnh người đói sinh trộm cướp và bị giết chóc thì nhiều lắm. Ông Liên nhớ: một buổi chiều trên đường Trần Quang Khải bây giờ. Một đoàn bốn chiếc xe bò chở những bì lúa chất cao 3-4m. Mỗi xe có một người kéo và bốn người đẩy. Phía trước và sau có 9-10 tên lính Nhật súng gươm tuốt trần áp tải.

Một người trong đám phu xe, bí mật dùng một chiếc dùi thép chừng 20 phân đâm một lỗ nhỏ vào bao lúa và gí một chiếc túi vải con vào hứng dòng lúa chảy. Tên lính Nhật phát hiện. Không nói gì, hắn dùng mũi kiếm đâm xuyên lưng người móc gạo. Nạn nhân rú lên một tiếng rồi đổ gục xuống đường, lênh láng máu. Đoàn xe vẫn tiếp tục đi…

Những dòng người khất thực đã kéo nhau đi trong đói lả vật vờ… Rồi họ cũng tìm đến điểm cuối cùng của cuộc hành trình - nơi chấm dứt mọi nỗi dày vò đau đớn của một kiếp người. Của triệu kiếp người…

Hiroshima: Những bức ảnh kinh hoàng chưa từng tiết lộ

Đầu tháng 8/1945, hai quả bom nguyên tử ném xuống thành phố Hiroshima và Nagasaki đã cướp đi sinh mạng của 250.000 người và trở thành cuộc thảm sát khốc liệt nhất trong lịch sử cận đại. Nhưng phải đến 60 năm sau, chính phủ Nhật Bản mới chính thức cho tiết lộ những bức ảnh tuyệt mật ghi lại sự kiện này.


1. Tàn tích

Không một chứng tích nào khác có thể minh họa sức nóng khủng khiếp phát ra từ vụ nổ hơn những hiện thực trần trụi được ghi lại dưới đây. Đó là những vết rạn chân chim hằn in trên mặt cầu Yorozuyo, nằm cách tâm bom chừng nửa km về phía tây nam.

Là khe nứt toạc trên bậc thềm tam cấp dẫn vào một ngân hàng ở Hiroshima - ngay tại nơi này, 1 nạn nhân xấu số đã bị thiêu rụi trong phút chốc.

Những gì còn lại của một cơ thể sống - mấy giây trước vẫn còn ngồi nhẩn nha ngay gần trung tâm vụ nổ - giờ chỉ là những đường nét dáng hình hằn in trên tường đá.

Tất cả đồng hồ được tìm thấy trong vùng bình địa nhất loạt dừng lại ở con số 8h15 phút sáng - thời điểm quả bom phát nổ.

2. Toàn cảnh cuộc thảm sát đẫm máu

Đúng 8h15 phút sáng ngày 6/8/1945, quả bom nguyên tử phát nổ ở độ cao 580 m trên bầu trời Hiroshima, tạo nên một khối cầu lửa khổng lồ và phát tán khắp bề mặt thành phố sức nóng 4.000 độ C. Bức xạ và sóng nén áp suất cao lan tỏa khắp bốn phương tám hướng, thiêu rụi hàng chục ngàn người và gia súc, làm tan chảy tất cả các tòa nhà và xe cộ. Trong nháy mắt, thành phố 400 năm tuổi tan thành tro bụi.

Trẻ em, phụ nữ tê liệt trong đúng các tư thế sinh hoạt thường ngày, lục phủ ngũ tạng bị luộc chín, xương cháy thành than bụi.

Ngay chính tâm vụ nổ, nhiệt độ đủ sức làm nóng chảy cả thép và bê tông. Chưa đầy vài phút, 75.000 người thiệt mạng và bị thương nặng, 65% trong số đó là trẻ em dưới 10 tuổi.

Số nạn nhân bỏ mạng bởi tàn dư của sóng bức xạ tiếp tục gia tăng với số lượng lớn vào nhiều ngày sau. “Sức khỏe của họ suy sụp bất ngờ. Chán ăn, rụng tóc, khắp người nổi vết lở loét màu xanh, và máu thì cứ vô cớ ồng ộc tuôn ra từ tai, mũi, họng”.

Các bác sĩ đã cố gắng tiêm vào cơ thể vitamin A liều lượng cao, nhưng hậu quả còn kinh hoàng hơn: máu bắt đầu túa ra từ những vết kim châm. Gần như không bệnh nhân nào qua khỏi.



3. Số phận của những “hibakusha”

Hibakusha là thuật ngữ khá phổ biến ở Nhật Bản, chỉ những nạn nhân mang trên mình tàn tích vụ nổ bom nguyên tử Hiroshima và Nagasaki.

Họ và đám con cháu bị xã hội phân biệt đối xử thậm tệ, do phần lớn dân chúng thiếu hiểu biết về bệnh phóng xạ, cho rằng những bệnh này có thể lây nhiễm hoặc di truyền từ đời cha sang đời con.

Họ bị sa thải khỏi các nhà máy. Phụ nữ hibakusha không bao giờ lấy được chồng, do nỗi sợ hãi sẽ đẻ ra những đứa con quái thai. Đàn ông hibakusha cũng chung số phận, vì “chẳng ai muốn chung sống với 1 người mà tính mệnh chỉ tính bằng vài năm nữa”.


4. Yosuke Yamahata - tác giả những tấm hình có sức tố cáo cao nhất mọi thời đại

Nhiếp ảnh gia Yosuke Yamahata

10/8/1945, một ngày sau vụ thả bom nguyên tử tại thành phố Nagasaki, phóng viên ảnh Yosuke Yamahata bắt đầu ghi lại những hình ảnh đầu tiên về cuộc thảm sát tàn khốc nhất trong lịch sử Nhật Bản. Cả thành phố là 1 biển chết, ngập trong gạch vữa đổ nát và xác người cháy trụi.

Bộ ảnh của Yamahata được đánh giá minh chứng sống động nhất, đầy đủ nhất hậu quả thảm khốc của vụ bom nguyên tử trên nước Nhật. Tạp chí New York Times đã từng gọi chúng là “Những bức ảnh mang sức mạnh tố cáo cao nhất mọi thời đại”.

Yamahata đổ bệnh nặng vào ngày 6/8/1965, đúng ngày sinh nhật lần thứ 48 và cũng là ngày tưởng nhớ lần thứ 20 những nạn nhân trong vụ ném bom ở thành phố Hiroshima. Khi đó, ông đã bước giai đoạn cuối của bệnh ung thư tá tràng - di chứng từ chất phóng xạ còn đọng lại từ năm 1945.

Ông qua đời ngày 18/4/1966 và được chôn cất tại nghĩa trang Tam, Tokyo.






30. Thảm hoạ Sóng thần Ấn Độ Dương năm 2004

Thảm hoạ Sóng thần Ấn Độ Dương năm 2004, được biết đến trong cộng đồng khoa học như là Cơn địa chấn Sumatra-Andaman, là một trận động đất xảy ra dưới đáy biển lúc 00:58:53 UTC (07:58:53 giờ địa phương) ngày 26 tháng 12 năm 2004. Trận động đất kích hoạt một chuỗi các đợt sóng thần chết người lan toả khắp Ấn Độ Dương, cướp sinh mạng một số lượng lớn cư dân và tàn phá các cộng đồng dân cư sinh sống ven biển ở Indonesia, Sri Lanka, Ấn Độ, Thái Lan và những nơi khác. Từ những ước tính ban đầu, người ta cho rằng hơn 283.100 người chết, nhưng những phân tích mới đây cho thấy con số tử vong chính xác là 186.983, với 42.883 trường hợp mất tích, trong tổng số 229.886 nạn nhân. Cho đến nay, thiên tai này là một trong những thảm hoạ gây nhiều tử vong nhất trong lịch sử thế giới hiện đại. Các phương tiện truyền thông quốc tế và người dân châu Á gọi nó là Sóng thần Á châu, trong khi tại Úc, Tân Tây Lan, Canada và Anh người ta gọi nó là Sóng thần ngày lễ Từ thiện (Boxing Day) bởi vì nó xảy ra ngay vào ngày lễ này.
Cường độ của trận động đất lúc đầu đo được 9.0 (trên thang Richter), nhưng sau tăng lên ở khoảng giữa 9.1 và 9.3. Với cường độ này, đây là trận động đất lớn thứ hai từng được ghi nhận bởi địa chấn kế, chỉ đứng sau trận động đất lớn ở Chile ngày 22 tháng 5 năm 1960 có cường độ 9.5. Cơn địa chấn Ấn Độ Dương làm rung chuyển mặt đất với cường độ 100 lần mạnh hơn trận động đất Loma Prieta xảy ra năm 1989. Nó có thời gian kéo dài lâu nhất mà người ta có thể ghi nhận được, từ 500 đến 600 giây. Độ lan toả của nó đủ lớn để có thể khiến tinh cầu của chúng ta dịch chuyển ít nhất là nửa inch, tức là hơn một centimeter. Nó cũng kích hoạt các trận động đất ở những khu vực khác, đến tận Alaska.
Cơn địa chấn khủng khiếp này khởi phát ở Ấn Độ Dương ngay phía bắc đảo Simeulue, ngoài khơi bờ biển phía tây của miền bắc Sumatra, Indonesia. Những đợt sóng thần sản sinh từ nó đã tàn phá vùng duyên hải Indonesia, Sri Lanka, Nam Phi, Thái Lan và những quốc gia khác với những con sóng cao đến 30 m (100 ft), gây thiệt hại nghiêm trọng và mang chết chóc đến tận bờ biển phía đông châu Phi, nơi xa nhất có ghi nhận tử vong do sóng thần là ở Cảng Elizabeth, Nam Phi, 8000 km (5.000 ml) cách xa tâm chấn.

Và đây là hậu quả của nó:


















31. Chủ nghĩa Phát xít - kẻ sát nhân kinh tởm nhất của mọi thời đại

Vào cuối năm 1944, quân đội Xô Viết tiến vào lãnh thổ Đức qua ngã Ba Lan, họ đã gặp trại tử thần Majdanck bên trong có trang bị nhiều phòng hơi ngạt và nhiều lò hỏa thiêu để tận diệt các người Do Thái. Nhiều phóng viên báo chí đã đi vào trong trại này và đã phổ biến những điều mắt thấy tai nghe. Ký giả H. W. Lawrence đã viết cho tờ báo New York Times: “Tôi đã nhìn thấy một nơi khủng khiếp nhất trên trái đất”.

Tới mùa xuân năm 1945, địa danh của các trại tập trung người Do Thái như Ohrdruf, Buchenwald, Dachau, Nordhausen, Auschwitz… vẫn chỉ là những tên gọi tầm thường trên các bản đồ quân sự nhưng khi đoàn quân Hoa Kỳ đã tiến vào Ohrdruf ngày 6/4/1945, các quân nhân Mỹ đã nhìn thấy nhiều bãi đất chứa thây người chết, đa số thối rữa giữa ánh nắng tháng 4, một số khác là các đống xác người rất lớn, hỏa thiêu giữa trời và cháy dở dang, còn các tù nhân sống sót trông giống như các bộ xương biết đi. Mùi tử khí xông lên nồng nặc. Các cảnh tàn sát các tù nhân, các cảnh giết người dã man tàn ác này đã ra ngoài sức tưởng tượng của các người lính Hoa Kỳ.






Holocaust là hệ thống lò hỏa thiêu 6 triệu người Do Thái do bọn Quốc Xã Đức (the Nazis) và các kẻ cộng tác gây nên trong thời kỳ Thế Chiến Thứ Hai. Bọn Quốc Xã đã gọi công việc tàn sát tập thể này bằng danh từ “Giải pháp cuối cùng của vấn đề Do Thái” (the Final Solution to the Jewish Problem).










Răng của người Do thái sau các vụ tàn sát


Còn đây là kính!
Không thể thực hiện tác vụ do chủ đề hiện đang ở trạng thái lưu trữ

Chủ đề cùng mục


Lời Ca Khúc Điểm nhanh Hợp âm az Chords up Tin xe nói về xe

Bản quyền bởi VietYO.com v3.0 - Viet Nam Youth Online
Diễn đàn mở của cộng đồng người Việt trẻ online - Liên hệ (info @ vietyo.com)